Chào mừng đến với Tử Bình diệu dụng.
Trang 1 của 6 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 57

Chủ đề: Quyển 12

  1. #1
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,788

    Quyển 12

    Quyển 12:

    Chân Bảo phú

    (Binh bộ Thượng Thư Vạn Kỳ thời Minh biên soạn –Vạn Dân Anh tiên sinh hiệu là Dục Ngô sơn nhân chú giải)

    Quan tinh đới Nhận không khắc phá, nắm đại quyền binh hình; Tài Ấn giúp nhau không có hình xung, quý đăng Hoàng các Tam Công.
    ( Chính Quan cách. Dương Nhận ở cùng Tài Ấn giúp nhau, có Thương quan thì khắc, có hình xung thì phạm. Không Ấn, không Nhận, chỉ có Tài tinh giúp nhau, cũng cát. Tuế cũng vậy. )

    Tài Quan sinh vượng phùng Ấn thụ, bái hoạch viên hiến phủ chi tôn; tam hợp Ấn Tài hội cục toàn, quý đăng Chư Hầu Ngũ Mã.
    ( Tài Quan sinh vượng cách. Trụ có Thiên, Chính Ấn, lại có tam hợp Ấn cục, hoặc Tài cục, là cát. )

    Thương quan phùng Kiếp Nhận, kiêm lẫn nhau lộ ở giờ; Nếu Ấn thụ tương phù, đăng Long môn lúc tuổi trẻ.
    ( Thương Quan cách. Thân nhược hỷ Nhận Ấn giúp đỡ nhau, thì cát. )

    Thương quan đắc Thực thần phụ trợ nặng, nói lấy bức tranh lầu tía Ngụy tướng công; tuế vận kị chế phục hình xung, lại tiếp tục có Thương quan mà họa đến.
    ( Thương quan gặp Thực thần trùng điệp phù nhau, cát. Chỗ kị hình xung cùng chế phục thái quá. Phục hành vận Thương quan, họa đến bất trắc. Trong trụ không có Quan, hỷ hành lúc Quan vận; không có Ấn, hỷ hành vận Ấn thụ, chủ dời quan. Tuế vận giống vậy. )

    Tài giúp Thất Sát, uy quyền độc áp vạn người; nếu Ấn tương phù, đoán định quan cư cực phẩm.
    ( Thất Sát cách. Hỷ Tài sinh trợ, lại được Ấn hóa, rất tốt. Duy chỉ có Sát, cho nên có chủ quyền; được Ấn, cho nên làm quan cực phẩm. )

    Tháng đã hội cùng Sát Nhận, tên tuổi sánh Hoắc Quang thời nhà hán; Năm giờ lại mang Tài Ấn. Địa vị cao xếp hàng Đặng Võ Trung hưng.
    ( Thất Sát, Kiếp Nhận cùng ở nguyệt lệnh, năm và giờ có Tài, có Ấn, là tối quý. Nghĩa giống đoạn văn ở trên, nhưng chỗ này lại kiêm nói Nhận vậy. )

    Sát thất thời mà Ấn vô khí, thêm chủ vượng mà đảm nhận thường lưu.
    ( Thất Sát, Ấn thụ, nếu không đương lệnh nắm quyền, còn nhật can tự vượng, dụng thần rất bé, chỉ có chức hư thanh lãnh đạm. Tuế vận hành Tài Sát, thì cát. )
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  2. Cảm ơn bởi:


  3. #2
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,788
    Ấn nắm lệnh mà Sát tương phù, lại thấy Tài làm quan Hàn Uyển.
    (Ấn thụ cách. Phải nắm quyền nguyệt lệnh, chi ngày lại đắc trọng sinh khí vượng, không thấy hình xung phá hại. Chỉ được một Tài, một Sát là hay, không nên thái quá. Tài Ấn lưỡng đình chỉ là thường lưu vậy. 《 Phú 》 lại nói: Ấn thụ trọng phùng, Quan cư Hàn Uyển là vậy. )

    Thiên Tài thời thượng kiến Quan, sớm đăng tên bảng vàng; lại được Thực thần phụ giúp, thiếu niên gần với thượng giới.
    ( Thời thượng Thiên Tài cách. Năm tháng có Quan tinh, lại có Thực trợ giúp, câu trên rất chuẩn. Kị Tỉ Kiếp, phùng Tỉ, thì trăm không toại một. )

    Phúc Đức kiến Tài mà ẩn Quan, quan cư cực phẩm; trụ vận phùng Ấn mà không có thổ, chỗ đến dưới cô hình.
    ( Phúc đức. Ví dụ như ngày Nhâm Quý, sinh ở 3 tháng mùa đông. Hỷ Tài Quan trợ giúp nhau, can chi tác hợp, hoặc đắc hỏa cục, cùng Thìn Tuất Sửu Mùi, nhưng chỉ có một chữ mới tốt. Nếu không có Tài Quan, mà gặp Ấn thụ, không hành Tài Quan, mà hành Ấn thụ cùng vận bắc phương, là hình thê khắc tử, là mệnh cô quả bần tiện vậy. )

    Lục Nhâm xu Cấn, thấu Tài Ấn là tuyệt diệu; Quan Sát tương xâm, lại bần cùng mà còn hạ tiện.
    ( Ngày Lục Nhâm gặp giờ Nhâm Dần, là Xu Cấn cách vậy. Năm tháng lại thấy Dần, thiên can thấu Đinh Tân là vi diệu, phú quý song toàn. Tối kị Quan Sát, hoặc thấy ở hành vận, cốt nhục lục thân phân tán, là người bần bạc nô tỳ vậy. )

    Lục Giáp xu Càn, hỷ Tài Ấn mà vị trọng danh cao; tuế vận xung hình, cùng Sát Quan mà tai hưng họa đến.
    ( Ngày Giáp gặp giờ Ất Hợi, là Xu Càn cách vậy. Năm tháng lại thấy Hợi, lại gặp Tài tinh, trùng gặp Ấn thụ sinh thân, Chính Quan tự nhiên xuất hiện, lại hành đất Tài vượng, là cát. Kị chữ Tị hình xung, Quan Sát khắc phá, Giáp Ất Kiếp đoạt. Tuế vận cũng vậy. )

    Tài túc điệp phùng đắc Ấn sinh, thiếu niên thụ phúc.
    (Tức là trước Tài sau Ấn, trái lại thành phúc, không thể thấy Tài phá Ấn là sợ. )

    Đảo xung đới Ấn gặp Tài Thực, tuổi trẻ thành danh.
    ( Đảo xung Lộc Mã cách. Chính là các ngày Bính Ngọ, Đinh Tị, Tân Hợi, Quý Hợi, trụ có Thiên Ấn, lại hành vận Tài Thực, là quý. Kị điền thực, Quan Sát không tốt. 《 Phú 》 nói: "Đảo xung đới Ấn, tuổi trẻ thành danh, Tài Thực phụ nhau, thân gần thềm son" là vậy. )

    Tuế Đức phù can, hỷ Tài tinh mà sợ chế phục; ở vận Ấn tinh, hội Dương Nhận mà nắm binh hình.
    ( Can năm Thất Sát gọi là Tuế Đức, không nên thấy trùng, tối hỷ Tài tinh cùng Ấn thụ, Dương Nhận không thể chế phục, tuế vận giống vậy. Như Giáp Thân, Kỷ Tị, Mậu Tý, Quý Hợi, Tuế Đức không có chế, giờ có Thất Sát đắc dụng, có Ấn hóa Sát trợ thân, có Nhận hợp Sát phù thân, cho nên đại quý. )
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  4. Cảm ơn bởi:


  5. #3
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,788
    Nhị Đức phối Quan, Vương Lăng làm tường nhà Hán.
    ( Như ngày Tân sinh tháng 9, lấy Bính là Thiên, Nguyệt nhị Đức, lại là Chính Quan, hỷ Tài tinh trợ giúp, kị Thương quan khắc chế. 《 Phú 》 lại nói: "Bình bang quốc, Thống lục sư, dựa vào Quan biến thành Nhị Đức" là vậy. Như Ất Hợi, Bính Tuất, Tân Sửu, Mậu Tý là hợp cách. Quan lại biến thành Đức, chỗ làm quan là vô họa; Tài biến thành Đức, đắc thiện trung tài bạch; Ấn biến Đức, chủ nhận tài sản của tổ phụ để lại mà vô họa; nhật can biến Đức, thì chủ bản thân. )

    Tài tinh Tú Đức, Tạ An lập đại công nhà Tấn.
    ( Như Mậu Kỷ, lấy Giáp Ất làm Quan, Nhâm Quý làm Tài, Nhị Đức thấu can, là thần Tú Đức. Không có Canh Tân chế phục, không bị Tỉ Kiếp tranh đoạt, là đại quý. Lại như, ví dụ ngày Ất lấy Canh làm Quan, sinh tháng Tị Dậu Sửu. Bính Đinh dụng Canh Tân là Tài, sinh tháng Tị Dậu Sửu. 《Phú》 lại nói: "Vua Thương phù Hán, bởi vì Tài Quan mà thành vinh Tú Đức" là vậy. Hoặc lấy Tú Đức làm Phúc Đức tú khí, lại thêm Tài Quan càng hay. )

    Thương quan nhiều mà kiến Quan, đá ngu sinh ngọc; vốn có Quan mà thấy tiếp tục, tai họa liên miên.
    ( Thương quan cách, yêu cầu trong trụ thấy trùng Thương quan, như có một vị Chính Quan, là quý. Không có Quan hỷ hành Quan vận. Thương quan như đá, Chính Quan như vương, nếu có Quan, tiếp hành Quan vận, thì họa. )

    Thương quan như mang Sát Nhận, xuất tướng làm tướng vào Công Hầu.
    ( Thương quan làm chủ, trụ mang Sát Nhận, lại được Ấn thụ, đương thời đắc lệnh, có tình lợi ích cho nhau, không bị hình xung, là cách cực đỉnh. 《 Phú 》 lại nói: "Thương quan đới Nhận, có Ấn đầy đủ, là đảm nhận một binh phù" là vậy. )

    Đức tú nếu trợ Thương quan, nắm binh quyền mà phục trọng hình.
    ( Chỗ này lại kiêm nói Đức Tú, đều lấy Thương quan cách làm chủ. ).

    Địa chi đủ Tý Ngọ Mão Dậu, thành đại cách mà văn võ kinh bang.
    ( Có đủ Tứ Trọng, phải xem thiên can thế nào, phải thành đại cách mới tốt. )

    Trụ đủ Tị Hợi Dần Thân, thêm kỳ nghi mà chấn chủ uy quyền.
    ( Trụ đủ Tứ Mạnh, phải xem thiên can thế nào, lại được kỳ nghi là vi diệu. )

    Mộc sinh tháng Mão, giờ hội Ngọ mà chấn động ly minh; vận đến tây nam, làm quan cực phẩm.
    ( Chỗ này là Mộc Hỏa thông minh cách vậy. )
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  6. Cảm ơn bởi:


  7. #4
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,788
    Thực gặp Ấn nhiều lại thấy cướp xung, tuổi thọ tất yểu.
    ( Đây là chỗ kỵ của Thực cách. )

    Trụ thịnh Thực thần vận Tài hương, công danh có chuẩn.
    ( Chỗ này là chỗ hỷ của Thực cách. )

    Triều dương đới Ấn Tư Mã túc, thanh tỏa hoàng môn; trụ không Tài Ấn, chức cư dân mục. Tuế vận rất sợ điền thực.
    ( Lục Âm triều Dương cách. Hỷ Ấn thụ, Tài tinh, nhập cách ở trong năm tháng, mà không có Tài Ấn thì giảm nửa phần. Vận hành Tài Ấn, quan cư chuyển vận, kị xung hình điền thực. Lại nói: Triều Dương mang Ấn, thanh triều đạt sĩ; Tài tinh trợ giúp, vinh không nhỏ, tức nhận quốc phong. Trụ không có Ấn Tài, phần đa là cư mục, chức thủ Tri Châu. )

    Thử Quý đới Thực tư Ấn diệu, vi viên phiên tỉnh; trụ có Quan Sát, bần cùng hạ tiện, vận đồ không hỷ hình xung.
    ( Lục Ất Thử Quý cách. Hỷ Thực thần trọng kiến, cùng Ấn thụ là cát. Kị Quan Sát xung hình hại. )

    Tý Sửu diêu hợp Tị cung, trụ Ấn Tài mà làm cực bảo; tuế vận nếu không có phụ tá, đăng ti chức mà tọa hàn chiên.
    ( Hai cách Tý Sửu Diêu Tị. Yêu cầu trụ có Tài Ấn, tất quý. Không có thì không phải. Vận gặp Tài Ấn, cũng phát. 《 Phú 》 lại nói: "Tý Sửu diêu hợp Tị cung, được Tài Ấn mà thành chí bảo" là vậy. )

    Luận đạo thụ bang, hỷ Tài Quan tự lộc mà tự vượng.
    ( Ví dụ như ngày Giáp lấy Tân làm Quan, được Dậu là Kiến Lộc, Kỷ thổ là Tài, trường sinh ở Dậu. Nhập tượng, là đại quý. Kị hình xung Thương quan vận, tuế cũng vậy. Như Ngô Nhạc Thượng thư: Giáp Tý, Quý Dậu, Giáp Thìn, Giáp Tý. Là hợp cách, mất năm Canh Ngọ, cuộc đời chính khí quân tử. )

    Điều nguyên tán hóa, bởi vì Tam Kỳ tự vượng mà tự sinh.
    ( Chính Quan, Chính Ấn, Chính Tài là Tam Kỳ. Ngày Ất lấy Canh làm Chính Quan, được chữ Tị trường sinh; Nhâm là Chính Ấn, sinh ở Thân; Mậu là Chính Tài, sinh ở Thân, là nhập tượng, đại quý. Như Đàm Luận Thượng thư: Canh Thìn, Giáp Thân, Đinh Mùi, Bính Ngọ, Tài Quan Ấn đều vượng. Hồ Tông Hiến Thượng thư: Nhâm Thân, Tân Hợi, Đinh Dậu, Nhâm Dần, Tài Quan kiến Lộc Ấn trường sinh, Đinh hỏa tự sinh ở Dậu, là đất quý thần, lại thành tượng hóa mộc. Cho nên uy chế tứ tỉnh, quan cư nhất phẩm. )
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  8. Cảm ơn bởi:


  9. #5
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,788
    Lan Xoa đắc Ấn lộc tương trợ, quan cư phụ bật a hành; hỏa kiếp kiêm tuế vận bất hòa, lại lấy bần cùng mà hạ tiện.
    ( Cách này trong trụ có Lộc thần, Thiên, Chính Ấn, thiên can được Tài Ấn là vi diệu. Nếu thấy hỏa thần, Kiếp Nhận thái trọng, tuế vận bất hòa, là bần tiện. )

    Lộc phùng Tài Ấn, thanh niên cập đệ đăng khoa; tuế vận hình xung, gặp Quan Sát là không hay.
    ( Quy Lộc cách. Trong năm tháng giờ có Ấn, có Tài, địa chi tam hợp là vi diệu. Vận hành đất Tài Ấn, cát. Kị hình xung, phá hại, Quan Sát phá cách. )

    Kim thủy thanh trong bị thương, văn chương hiển đạt mà tuổi thọ khó dài.
    ( Trong trụ có kim cục Tị Dậu Sửu, thủy cục Thân Tý Thìn, đủ hai cục, viết là Kim bạch Thủy thanh. Nhưng bị thiên can Bính Đinh Mậu Kỷ hỗn khắc, thì tốt mà không thọ. 《 Phú 》 nói: "Kim thủy thanh trong bị thương, Nhan Tử tú mà không thực" là vậy. )

    Mộc hỏa suy thịnh không bình, công danh thặng đặng mà yểu chiết là không sai.
    ( Ngày Ất sinh mùa hạ, trong trụ nhiều Bính Đinh Ngọ Tị hỏa, là công danh thặng đặng, văn danh là Khí tán. Trụ không có Tài Ấn, thì tan thành tro bụi, khắc tử thương thê, hoặc là tàn tật . Được Kiếp Nhận bang trợ, Nhâm Quý sinh phù, Mậu Kỷ giúp ích, công danh tuy có, cũng nhỏ mà thôi. )

    Vân Long phong Hổ nếu theo nhau, định làm đại khí thánh triều.
    ( Vân Long phong Hổ, như Giáp Ất sinh 3 tháng mùa xuân, hoặc tháng Hợi Mão Mùi, là sao Thanh Long, thiên can phải có Nhâm Quý thủy, gọi là Vân Long tương tòng. Hoặc Canh Thân, Tân Dậu, nếu gặp một chữ, là thần Bạch Hổ tây phương, thích gặp Hợi Mão Mùi gặp hợp chữ Tị là Tốn phong, thì quý. Nếu thấy điền thực, lại không có vân vũ (mây mưa), gọi là Hạn Long; có dương mà không có âm, là có vua mà không có thần, cương nhu không cứu nhau, trái lại là kẻ tầm thường vậy. Hoặc lấy Thìn là Long, Dần là Hổ, Nhâm là Vân, Tị là Phong, cục đủ Dần Thìn Tị Nhâm, là đại quý. )

    Phi Lộc Đảo xung kiêm Ấn thụ, tất là danh công chiêu đại.
    ( Phi thiên Lộc Mã Đảo Xung cách, hỷ Ấn Tài. Kị Chính Quan, Thất Sát xung hình, điền thực. Nếu hành Ấn Tài cùng đất tam hợp, cũng cát. )

    Thân tuy vượng mà Quan lộc là khinh, Mã là giảng kinh nghệ ở thao trướng.
    (Như ngày Giáp Dần, dụng Tân làm Quan cùng sinh 3 tháng mùa đông, hoặc tháng 4, 5, dụng thần đã cạn, lại không có Tài tinh trợ giúp, là mệnh dừng đức sư. Như sinh mùa hạ, mà Tài tinh trợ giúp, danh tựa Đào Chu. Nếu khắc được chế phục, hỏa trọng thì không phải.)

    Cách không thanh mà dụng thần hưu phế, Tiêu Tào khởi đao bút ở tây Tần.
    ( Nghĩa giống như trên. )

    Giáp Ất nếu nhập Càn cung, hội mặt Thìn Long. Tất quý.
    ( Hai chữ Giáp Ất thấu nhiều ở can đầu, địa chi thấy Hợi, lại được chữ Thìn. Danh là Lục Giáp xu Càn cách, cát. Như tứ trụ nhập tượng, chủ đại quý. )

    Kim Thần như phùng Nhâm Quý, đắc Tị Ngọ là tốt.
    ( Người sinh ngày Giáp Ất, được Nhâm Quý Ấn sinh phù, chi mang Tị Ngọ. Là Thủy Hỏa ký tế, tượng Rồng được bay cao, nói thi công làm mưa.)

    Canh gặp Nhâm Quý tọa Sát Án, mà Chu Du vị trọng.
    ( Sinh ngày Lục Canh, trong trụ nhiều Nhâm Quý, thân tọa Thất Sát, Ấn thụ, chủ đại quý. Như Hà Thượng thư: Nhâm Tý, Quý Sửu, Canh Ngọ, Bính Tý. Mệnh của tôi (tức mệnh của Vạn Dân Anh cư sĩ hiệu Dục Ngô sơn nhân thời nhà Minh) là: Nhâm Ngọ, Quý Sửu, Canh Dần, Bính Tuất (tức sinh ngày 14/1/1763 DL, giờ Tuất nhằm ngày 1 tháng 12 năm Nhâm Ngọ âm lịch). Đều hợp cách này).
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  10. Cảm ơn bởi:


  11. #6
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,788
    Quy Xà trì kiếm kiêm Kim Nhận, nhi cổ phục danh cao.
    ( Sinh ngày Nhâm Quý, trong trụ nhiều Bính hỏa, hoặc là nhị cục Dần Ngọ Tuất, Thân Tý Thìn. Thủy thuộc Quy, Hỏa thuộc Xà, tượng danh là Quy xà Trì Kiếm. Trụ không có kim, thì không ra thanh kiếm. )

    Canh Tân trọng mà giờ thấy Tị Hợi, là Hổ khiếu sinh phong. Được Mậu Kỷ theo giúp, quan cư cực phẩm.
    (Nhật chủ Canh Tân, lại thấy can Canh Tân, trong năm tháng giờ gặp một Tị là Tốn phong; hoặc được Hợi cũng được. Hỉ Giáp Ất Hợi Mão Mùi, vận hành đông nam, quyền cao lộc trọng. Hành bắc phương, phú. Nhập tây, họa khó lường. )

    Nhất khí tương sinh, xưng Ngũ hành thuận Thực, địa vị gần Tam Thai.
    (1. Sao Thai: Tam Thai 三台 sao Tam-Thai. Sách thiên văn nói sao ấy như ngôi Tam-Công 三公, cho nên trong thư từ tôn ai cũng gọi là Thai. Như gọi quan trên là Hiến Thai 憲台, gọi Quan Phủ huyện là Phụ Thai 父台, gọi các người trên là Thai Tiền 台前 đều là theo cái nghĩa đó. 2. Thai Cát 台吉 tên tước quan, bên Mông-cổ chia ra bốn thứ để phong các con em nhà vua.)
    ( Nhất Khí tương sinh, tức Giáp sinh Bính, Bính sinh Mậu, Mậu sinh Canh, là ngũ hành thuận thực. Thêm địa chi hỗ ích, đại quý. Hoặc lấy Thiên Nguyên nhất khí giải thích, là không phải. )

    Kim Thần đới Nhận, gặp hỏa địa sáng rực, quan cư Nội Các.
    ( Kim Thần cách. Trong trụ có Dương Nhận, lại hành hỏa hương, đại quý. )

    Thời thượng Thiên Quan, hỷ Kiếp Nhận Ấn Tài, mà ở năm tháng.
    ( Thời thượng Thiên Quan cách. Trong năm tháng giờ, có Tài giúp Ấn hóa, Nhận phù thân cường, chủ quyền Phong Hiến. )

    Phụ truyền tử đạo kiêm văn võ, tương tương nhi hiển triều đình.
    ( Sinh ngày Ất, phùng giờ Nhâm Ngọ, là đúng. Ất thuộc đông phương thần Thanh Đế, Ngọ thuộc nam phương thần Đại Đế. Ất là cha, Ngọ là con, gặp trên can Nhâm thủy, lại sinh Ất mộc, là nhà cha truyền đạo cho con, Thanh Xích nối tiếp nhau là vi diệu. Nhập cách này, một đời cao công, áp đảo nghìn quan. Không hợp thủy thịnh, Ất mộc bị phù phiếm. Trước có nói Mộc sinh tháng Mão, hội giờ Ngọ là Chấn động Ly minh, vận đến tây nam làm quan cư cực phẩm vậy. )
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  12. Cảm ơn bởi:


  13. #7
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,788
    Thương quan thấu còn Chính Quan ẩn, gặp Sát Ấn mà vị trọng quyền cao.
    ( Thương quan thấu ở can năm tháng giờ, Chính Quan ẩn ở bên trong trụ địa chi, có đủ Tài Ấn Thất Sát, là đại quý. )

    Địa thiên giao mà cảm âm dương, đắc Mậu Kỷ là Tam Thai Bát Tọa.
    ( Ngày giờ được Hợi là Càn thiên, năm tháng được Thân là Khôn địa, mà can thấu Mậu Kỷ là Địa ở trên Thiên, ý có âm dương giao cảm, trong dương ngoài âm, thấy thuận tượng. Nhập cách này, là đại quý. )

    Mộc thịnh kim phồn, đắc ly minh mà công trung chính trực.
    ( Mộc dựa kim gọt, phồn thì kim quá nhiều, cần có hỏa chế kim. Công trung chính tại, là nói bởi vì kim mộc vậy. )

    Kim bạch thủy thanh, gặp trường sinh mà thông minh xuất chúng.
    ( Ngày Canh Tân, sinh ở tháng Thân Tý Thìn, địa chi tọa Tị, trụ có Nhâm Quý, không có hỏa thổ bác tạp, chủ thông minh có văn học. )

    Hỏa minh mộc tú, phùng thổ hiện nhi tảo cổ ngao đầu.
    ( Sinh ngày Giáp Ất, trong trụ có Tị ở chữ Bính Đinh Dần Tuất, đặc biệt sinh ở mùa xuân. Nếu địa chi có Ngọ Tuất Hợi Mão Mùi, đều được một chữ, cũng được, không câu nệ phải sinh ngày Giáp Ất. )

    Thủy mộc sinh ở mùa xuân, gặp thổ kim mà lấy địa vị Công Hầu.
    ( Thủy kiến thổ, mộc kiến kim, là Quan. Thủy kiến Kim Ấn, Mùi kiến thổ Tài, mùa xuân thì mộc vượng thủy hưu, Tài giúp qua lại, cho nên quý. )

    Kim phùng hỏa luyện, tuổi trẻ làm quan; Mộc được kim cắt, tuổi trẻ thành danh.
    ( Lời nói này là Ngũ hành cứu giúp lẫn nhau vậy. )
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  14. Cảm ơn bởi:


  15. #8
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,788
    Kim đa thất hỏa, tính địa hung ngoan;
    Mộc thịnh vô kim, oán công danh không thành.
    Thổ trọng mà không có mộc khai thông, khốn khổ bôn ba;
    Thủy thịnh mà không có thổ chế phục, người phá gia dâm đãng.
    Hỏa thịnh mà không có thủy cứu, là bạo phu chết mà không hối hận.
    Mộc suy hỏa thịnh thành bụi bay, công danh chậm mà khó tránh chết yểu;
    Kim bạch thủy thanh bị Kiêu hại, văn chương tú mà tuổi thọ không dài.

    ( Ở đây nói chung ngũ hành, thiên đảng không có chế hóa, đều không cát. )

    Kim bạch thủy thanh, thoát Kiêu thần mà văn chương ích hiển.
    ( Cùng ở trước nói: "Kim bạch thủy thanh, gặp trường sinh mà thông minh xuất chúng" xem lẫn nhau. )

    Sát Quan lưỡng lộ, gặp Nhị Đức mà tước vị sùng cao.
    ( Nhị Đức, là Thiên, Nguyệt nhị đức vậy. Sát Quan lưỡng lộ cho nên hỗn tạp, được chỗ này giải trừ, cho nên quý. )

    Tài tư Thất Sát, tử nghi ti tương cầm quyền cao.
    ( Trong trụ Tài vượng Thất Sát, Sát sinh Ấn, lại đắc địa trường sinh, nhật can vượng, cách cục thuần, đại quý. )

    Kim Thần đới Sát, khấu đại khí chuẩn thiện Miếu đường.
    ( Kim Thần trọng phạm, năm tháng giờ lại gặp Thất Sát, đại quý. Kị hình xung. )

    Tuế Đức phùng Tài Sát Tài căn, sớm đăng hiển sĩ; lại thêm Ấn Nhận không có đố hợp, đến dự cao khoa.
    ( Cùng trước đây có nói: "Tuế Đức phù Can, hỷ Tài tinh mà sợ chế phục; Ấn tinh ở vận hội Dương Nhận, mà nắm binh hình." Nghĩa là giống nhau. )

    Tuế Đức phùng Tài, thiếu niên thỉnh mời; Tuế Đức đới Nhận, tuổi trẻ thành danh.
    ( Tuế Đức là Sát trọng, cho nên nhiều lần nói. Thỉnh mời, trẻ mà thành danh, sớm đạt cao khoa mà đăng hiển sĩ. Lấy năm quản tuổi trẻ, là do Sát chủ uy phong vậy. Giả như ngày Giáp thấy năm Canh gọi là Tuế Đức, trong trụ phải có Mậu Kỷ giúp Sát, Tị Dậu Sửu là Sát căn mang Nhận, hỷ hành Ấn thụ, kị Chính Quan là thần đố hợp. )

    Tháng Thất Sát mà năm giờ mang Thực, hiệu là Hiến phủ phong sương.
    ( Thực thần chế Sát, lý là tất nhiên vậy. )

    Tháng Sát Ấn mà giờ Thương quan, nhận hậu sủng Phượng các Long lâu.
    ( Nguyệt lệnh có Sát, Ấn, can chi năm được chỗ này là cực diệu. Nếu giờ thấu Thương quan, là vợ của Ấn, lấy Sát chế, cho nên chủ đại quý. )

    Ngày Bính hỏa mà giờ nhập Hợi cung, đẹp tựa mặt trời mà văn minh tứ hải.
    ( Ngày Lục Bính, mà giờ được Kỷ Hợi, Hợi thuộc Can là thiên, hỏa ở trên trời, không có chỗ nào là không chiếu sáng. Mệnh có tượng này, từ nhỏ đến già, vị cao đại hiển, đảm nhận nắm binh hình. Trên phò thiên tử, dưới thuận tứ thời, ngoại phủ tứ di. Chỗ kị hình xung, phá hại, có cứu là cát. 《 Phú 》 nói: "Dương hỏa giờ phùng cung Hợi, văn minh quang chiếu khắp tứ hải" là vậy. )
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  16. Cảm ơn bởi:


  17. #9
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,788
    Can dương huỳnh mà giờ gặp Kỷ Sửu, xuất hồ địa mà chiếu diệu sơn xuyên.
    ( Ngày Bính gặp giờ Kỷ Sửu, là tượng mặt trời hiện ra trên mặt đất. Thuận mà dựa vào ở thiên, đứa đại minh. Như an quốc khang hầu, được ban cho nhiều, mệnh gặp chỗ này, là cánh tay đắc lực giúp nước an dân. Như mệnh Diêu Lai Trạng nguyên: Mậu Thân, Mậu Ngọ, Bính Thìn, Kỷ Sửu, là hợp cách. 《 Phú 》 lại nói: "Lục Bính giờ lâm Kỷ Sửu, mặt trời ở trên mặt đất là cực hiển" đúng vậy. )

    Giờ Tân Hợi mà ngày phùng Đinh, là giờ Tam Kỳ mà sớm được khoa danh.
    ( Ngày Lục Đinh thấy giờ Tân Hợi, Tân là Thiên Tài, trong Hợi có Giáp mộc Chính Ấn, Nhâm thủy Chính Quan, gọi là Thời thượng Tam Kỳ. Tất chủ thiếu niên đăng khoa. Phú quý trường cửu. 《 Phú 》 lại nói: "Âm hỏa giờ Hợi, phú quý du du" là đúng vậy. )

    Tháng kiến Thân mà năm giờ gặp Tý, là Khôn Khảm thuận mà tương tương khả kỳ.
    ( Muốn biết phú quý, trước tiên xem Nguyệt lệnh, là Đề cương. Tháng là Thân thuộc Khôn là Địa, chi năm là Tý cư Khảm là thủy, là quẻ Địa Thủy Sư, thủy không ở ngoài địa, binh không ở ngoài dân. Được tượng này, là đại quý. Giờ Tý cũng vậy, chi ngày Tý thì không phải. )

    Giờ Ly năm Tốn ngày âm kim, thấu Giáp Ất là địa vị Tam Thai.
    ( Người sinh giờ Ngọ, chi năm gặp chữ Tị, ngày được Tân kim làm chủ, kim dụng cùng mộc là Tài, Ly hỏa là Quan, tượng danh viết là Nội được kỳ thuận mà Ngoại được cao minh. Nhu tiến mà đi lên, đắc trung mà ứng hồ cương. Nếu Tốn cư nguyệt lệnh, thi không phải, nhập cách là đại quý. )

    Mộc tú hỏa minh xuân nắm lệnh, nhập tượng này đoạt khôi bảng nhãn.
    ( Trọng sinh ở mùa xuân. Trước đây có nói nghĩa: "Hỏa minh mộc tú, phùng thổ hiện mà sớm chiêm ngao đầu". )

    Thực thần đới Nhận kết cục, mà địa vị đến Tam Công. (Là ba chức quan cao nhất thời phong kiến gồm: Thái Sư, Thái Phó, Thái Bảo)
    ( Như ngày Giáp Thực là Bính, cần hỏa cục; ngày Kỷ Thực là Tân, cần kim cục. Chỉ được một chữ, lại thêm có Nhận trợ giúp, là đại quý. )

    Thực thần đới Nhận tọa Quan, mà huân cao nhất phẩm.
    ( Nhật chủ tọa dưới Quan tinh, trong năm tháng giờ có Nhận Thực xuất hiện, là đại quý. Chỗ sợ có Thiên Ấn xung hình, nếu hành hai vận Tài Quan, đột nhiên bỗng phát. )
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  18. Cảm ơn bởi:


  19. #10
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,788
    Quan tinh đới Nhận, Ban Siêu vạn lý phong hầu; năm tháng được giờ, Chu Bột đặc nhiên làm tướng.
    ( Cách chính tinh, dụng thần phải nắm thời. Trụ có Kiếp Nhận là Chính Quan Thê Tài, là cương nhu cứu nhau, lại được Tài tinh là quý. Quan tinh, Kiếp Nhận cùng hiện ở trên thiên can, càng quý. 《 Phú 》 lại nói: "Quan tinh đới Nhận, quý không thể nói. Năm tháng thấu lộ, Chu Bột đặc nhiên nhập tướng" là đúng vậy. Đắc thời, là lấy Quan tinh thừa vượng mà nói; Đới Nhận, là nói lấy can chi không câu nệ; Thấu lộ, là nói nhằm thẳng chỗ trọng vậy. Nhận là hung sát, mang Quan Thực, đều lấy quyền quý xem. Như Lý Bang Trân Đô hiến: Quý Dậu, Kỷ Mùi, Nhâm Tý, Canh Tý, là hợp cách. )

    Tài Quan song mỹ, thấu Tài Ấn, mà tôn cư Thai Tỉnh; đến vận Tỉ kiên, thêm hình xung, quyết ôm giữ gốc cây.
    ( Ngày Quý Tị, tọa hướng tháng 4; ngày Nhâm Ngọ, tọa hướng tháng Ngọ, thiên can thấu Tài Ấn, là quý. Không hợp ở vận bắc phương, lại sợ hình xung. Nên cân nhắc. )

    Tài Quan sinh vượng, thiên can thấu lộ là vi kỳ, mà đến đai thắt lưng vàng.
    ( Tứ trụ có Tài tinh vượng, bất tất Chính Quan thấu, Tài tự sinh Quan, tuyệt kỳ. Hoặc Tài Quan lưỡng thấu, cư đất sinh vượng, đều là đại quý. )

    Tài vượng sinh Quan, Ấn Nhận tương phù vi diệu, là Tam Thai Bát Tọa.
    (Trong trụ có Tài tinh vượng đắc lệnh, lại có Ấn Kiếp phù trì, đại quý. Chớ nên tiếp hành vận Tài tinh).

    Can Thực thần ma giờ cưỡi Lộc Mã, tuổi trẻ đề vinh danh Hổ bảng.
    ( Ngày Canh kiến giờ Nhâm Ngọ, ngày Tân kiến giờ Quý Tị, là đúng. )

    Thấu Ấn thụ mà cách được Tài Quan, tuổi trẻ đảm nhận trấn thủ biên cương.
    ( Tài Quan cách, cần năm và giờ thấu Ấn là vi diệu. )

    Nhật can kiện vượng, mà Ấn Nhận tương phù, Cung Thắng tử tiết tận nhà Hán.
    (《 Phú 》 lại nói: Sát vượng mà được Ấn Nhận phù trợ, Cung Thắng tử tiết ở Tây Hán, là tứ trụ thuần Sát. Hoặc là Quan tinh tòng Sát, được Ấn Nhận thấu xuất thiên can, chính là lương thần trung tiết vậy. Trước có nói Nhật can vượng mà Ấn Nhận thấu tương phù thì thái quá, chỗ này được xứ tốt sao? Lúc này lấy hậu là chính. Suy xét Cung Thắng, quân chỗ nhà Hán mà có thể tử tiết, hẳn phải là do ngũ hành thái quá mà tổn thương chăng?)
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  20. Cảm ơn bởi:


 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •