Chào mừng đến với Tử Bình diệu dụng.
Trang 21 của 21 Đầu tiênĐầu tiên ... 11192021
Kết quả 201 đến 203 của 203
  1. #201
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Jun 2014
    Bài viết
    747
    Quyển năm (3)

    Ngũ hành sinh khắc phú

    Can chi quá lớn, mới sinh vạn vật, vốn ở trời đất, tổ tông vạn tượng là đây.
    Mấu chốt âm dương biến hóa, dụng thời tiết nông sâu.
    Cho nên kim mộc thủy hỏa thổ không có chính hình, sinh khắc chế hóa, lý lẻ áp dụng là không đồng nhất.
    Ví như Tử mộc, nên thích nghiêng về dòng nước chảy để sinh sống.
    Ghi chú: Tử mộc là hưu tù, Ngoan kim là vượng tướng. Đống Lương là vật mộc vậy. 】
    Thí dụ như Ngoan Kim, tối hỷ có lò lửa để nung luyện.
    Thái dương hỏa, kị rừng mộc là kẻ thù.
    Vật Đống Lương, cầu có búa rìu kim làm bạn.
    Hỏa cách thủy không thể nung kim.
    Kim chìm dưới thủy sao có thể khắc mộc.
    Ghi chú: Hỏa nhược không thể nung kim, kim chìm không thể khắc mộc. 】
    Hoạt mộc thiết kị chôn gốc.
    Tử kim lại sợ gặp loại bùn nhão.
    Ghi chú: Hoạt mộc là Dương mộc kị kim vượng, Tử kim, là thổ chôn kim vậy. 】
    Giáp Ất muốn thành một khối, cần phải thêm công làm xuyên thủng.
    Nhâm Quý có đạt ngũ hồ, phần nhiều là tính có cùng dòng chảy.
    Cây gỗ không dùng được (Xu mộc) việc gì không chịu nỗi rìu bén nhọn.
    Chân châu (Ngọc Trai) rất sợ khói sáng.
    Ghi chú: Xu mộc là hưu tù, Chân Châu là Tân kim vậy. Nhược liễu, là Nhâm Ngọ Quý Mùi, Kiều Tùng, là Canh Dần Tân Mão. 】
    Nhược Liễu Kiều Tùng, thời phân suy vượng.
    Tấc kim thước sắt, dụng khí cương nhu.
    Thổ Lũng đầu, thiếu mộc khó khai thông.
    Kim trong lò, ẩm ướt trái lại là che lấp.
    Vũ lộ (mưa mốc) an bài hủ mộc (cây mục).
    Tường thành không sinh chân kim.
    Kiếm kích thành công, gặp đất hỏa mà lại thành phá hoại.
    Tích tựu tường thành, đến đất mộc mà lo khắc.
    Quý Bính sinh Xuân, tượng không mưa không sáng.
    Ất Đinh sinh mùa Đông, trời không lạnh không nóng.
    Kim rất bén nhọn ôm thủy, ứng nhất là chuỷn dời sắt ra khỏi lò.
    Giáp Ất gặp kim cường, hồn quy hướng Tây Đoài.
    Canh Tân gặp hỏa vượng, khí tán Nam Ly.
    Thổ táo hỏa viêm, kim không chỗ dựa.
    Mộc phù thủy phiếm, hỏa không thể sinh.
    Các tháng mùa Hạ nấu chảy kim, mộc yên ổn chế tạo cứng chắc.
    Các tháng mùa Đông là thấp thổ, đê thủ sóng gió khó phiếm lạm.
    Bụi ít hợp thành thổ, cuối cùng không phải là nền tảnh hoạt mộc.
    Sắt vụn nung kim, mộc sao có thể làm thêm chảy.
    Mộc thịnh nắm lệnh kim tự khuyết.
    Thổ hư lại bị thủy coi thường.
    Hỏa không có mộc thì hết sáng.
    Mộc không có hỏa thì chất bị mờ.
    Ghi chú: Hỏa dựa mộc để sinh ánh sáng, mộc dựa hỏa để thông minh. 】
    Ất mộc sinh mùa Thu, dễ dàng bị mục nát vậy.
    Canh kim tử ở mùa Đông, vùi dưới cát rơi xuống biển sao khó ư.
    Cây cỏ gặp sương tụ, sao dụng gặp kim. Kim ra khỏi thổ, không thể thắng mộc.
    Hỏa không cháy mà có khói trước.
    Thủy vừa đi mà vẫn ẩm ướt.
    Đại để thủy lạnh không chảy, mộc lạnh không phát triển, thổ lạnh không sinh, hỏa lạnh không cháy, kim lạnh không nấu chảy, đều không phải thiên địa chính khí vậy.
    Nhưng mà vạn vật lúc mới sinh chưa thành, thành lâu thì diệt. Mấu chốt siêu phàm nhập thánh, tốt ở thoát tử hồi sinh, không đầy mà thành, không hình mà hóa. Cho nên Dụng không bằng Bản (gốc) vững bền, hoa nhiều sao bằng rễ sâu.
    Ghi chú: Bản là chỗ Nguyên thần sinh, Dụng là dụng thần ở trong chi tháng. 】
    Còn như Bắc kim thích thủy mà hình chìm.
    Nam mộc không thành tro bụi mà hình thể thoát.
    Đông thủy vượng mộc gốc đã khô.
    Tây thổ Thực kim mà thể hư.
    Hỏa vì thổ mờ mà tất cả đều là thái quá. Ngũ hành quý ở trung hòa, lấy lý mà cầu, cẩn thận chớ nói bừa, rút hết hố lạnh nên thấy đáy.
    Đức trọng Quỷ Thần kinh,
    Tài cao Long Hổ phục.

  2. Cảm ơn bởi:


  3. #202
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Jun 2014
    Bài viết
    747
    Lạc Lục Tử - Tiêu Tức phú

    Nguyên nhất khí là ở Tiên thiên, chịu thanh trọc là ở tự nhiên, được Tam Tài để thành tượng, truyền bá bốn mùa mà thành năm.
    Ghi chú: Phân biệt tường tận ở chỗ này để suy đoán sinh mệnh. 】
    Lấy can là lộc, lấy thuận nghịch định giàu nghèo. Đã là mệnh, tường tận thuận làm tuần hoàn.
    Vận hành thì một thần 10 tuổi, chiết trừ chính là 3 ngày thành 1 năm. Mệnh có tiết khí nông sâu, mà được dùng.
    Là khí vậy, tương lai là tiến, thành công là lui, như rắn ở trong bụi, như lươn ở trong bùn.
    Là có vậy, là theo không mà lập có, là không vậy, trời để lại tượng lấy chỉ ra chữ.
    Là thường vậy, lập nhân lập nghĩa. Là việc vậy, hoặc thấy hoặc nghe.
    Cao quý là báu vật vậy, là quý vậy, Tướng tinh phù đức, Thiên Ất gia lâm, bản chủ hưu tù, như lui về sông Mịch mà ở ẩn vậy.
    Ghi chú: Tướng tinh: Dần Ngọ Tuất ở Ngọ, Thân Tý Thìn ở Tý, Tị Dậu Sửu ở Dậu, Hợi Mão Mùi ở Mão. 】
    Về phần Câu Trần đắc vị, không bỏ chuyện nhỏ để thành người. Huyền Vũ đương quyền, biết là đại tài mà chia may mắn.
    Bất nhân bất nghĩa, như Canh Tân cùng Giáp Ất giao sai. Hoặc đúng hoặc không, Nhâm Quý cùng Bính Đinh sợ nhau.
    Cho nên có tiên hiền, bản thân khiêm tốn ở trần tục. Cầu thần tiên cao quý giải thích, chính là cung Ly tu hành, chính là quy đạo kho thủy thỉnh cầu nguồn gốc.
    Thông đạo là hiểu biết ngũ hành, thủ dụng nhiều cửa, lý ở hiền nhân, loạn ở xấu xa, thành ở diệu dụng, bại ở bất lực.
    Hình thấy hay không thấy, vô thời không có. Lấy hay không lấy ra đầu mối, muôn đời liên tục.
    Là lấy Hà Công sợ Thất Sát, Tuyên Phụ sợ Nguyên thần. Nga Mi mở ra để ba đời, bầu trời đầy đủ nhiều kẻ sĩ. Quỷ cốc truyền bá cửu mệnh, nhìn sao ước đoán. Bây giờ tập hợp nhiều nhà trọng yếu, khả năng mở ra phiến diện, không giải thích khúc cong thông suốt mà cho là đúng, kì diệu phải gặp thần linh.
    Ghi chú: Hà Công, là cao sĩ thời xưa, Tuyên Phụ, là đại thần nhà Chu. 】
    Thần xuất ra từ hoa Mộc Lan vậy, trẻ em ngưỡng mộ chân phong. Nhập thần kì bất chấp mọi thứ, thần diễu hành không thay cây trượng. Tức là một khí để tập trung tư tưởng, Tiêu là cần ngũ hành mà thông đạo.
    Càn Khôn lập giống đực giống cái ( âm giống như chủng loại), kim mộc định cương nhu, ngày đêm lẫn nhau là quân thần, thời xanh đỏ là cha con.
    Không thể một đường mà lấy nề nếp, không thể một lý mà suy ra. Thời có mùa Đông gặp mùa hạ nóng bức cây cỏ hướng sương, loại có chuột dừng lại ở bóng râm, rùa thần ngũ ở hỏa dừng ở băng.
    Là lấy âm dương đo lường, chí hướng vật khó tận cùng. Đại để tam đông ít nóng, Cửu Hạ dương nhiều. Nếu có điềm họa phúc, thuật sĩ hi vọng được 8,9.
    Hoặc nếu sinh gặp đất hưu bại, tuổi trẻ cô khổ nghèo nàn, về già gặp đất vượng, gần tuổi dừng lại. Nếu là trước hung sau cát, vốn lấy trọc mà lưu thanh. Đầu cát cuối hung, là loại gốc ngọt mà đời sau khổ.
    Nhìn ở điềm báo nảy sinh, lấy xem nguồn cội, gốc ở trước mầm, quả theo sau hoa.
    Thai sinh gốc mệnh, ba đời định ở tổ tông. Luật Lữ bàn bạc, ngũ hổ luận thành bại.
    Không hợp có hợp, đời sau khó biết. Được một phân ba, tiền hiền không ghi.
    Năm dù gặp ở quan đới, vẫn còn có họa. Đầu vận tới ở đất suy, vẫn còn mở ra tươi sáng.
    Đoạn lớn thiên nguyên suy nhược, cung nói không đủ để là vinh. Dưới được hưng thịnh, quẻ hung không thể thành hung.
    Nếu gặp hung nhiều cát ít, không có công cứu chữa. Cát nhiều hung ít, gặp họa tự khỏi. Lộc có tam hội, tai có ngũ kỳ.
    Hung nhiều cát ít, loại hào đầu là Đại Quá. Phúc cong họa sâu, nói hào cửu ngũ là Đồng Nhân.
    Nghe hỷ không hỷ, là thiếu đủ Lục Giáp. Nên ưu không ưu, dựa vào ngũ hành cứu trợ.
    Bát Cô lâm vào Ngũ Mộ, Tuất Mùi Đông hành. Lục Hư ở dưới Không Vong, do lấy Càn nam.
    Ghi chú: Ngày Cô Hư, Không Vong, như người sinh tuần Giáp Tý lấy Tuất Hợi là Không Vong, Không Vong đối cung Thìn Tị là Cô Hư. Như người sinh Giáp Tý đếm tới cung Tị là Hư, Thìn là Cô. Ngũ hành dựa theo chỗ này. 】
    Thiên Nguyên nhất khí, định hầu bá thiên vinh. Chi lấy nhân nguyên, vận không bàn mà được mất.
    Nếu là thân vượng Quỷ tuyệt, dù là phá mệnh mà sống thọ. Quỷ vượng thân suy, mệnh gặp thấy mà yểu thọ.
    Bối Lộc Trục Mã, lấy đường nghèo mà còn kinh sợ. Lộc Mã đồng hương, không Tam Đài cũng Bát Tọa.
    Quan cao vị hiển, định biết là đất giáp lộc. Nhỏ đủ lớn ngã, e là đất Kiếp tài.
    Chủ tháng mang lộc, địa vị làm quan hiển hách. Trọng phạm kỳ nghi, khí chứa hỗn tạp ôm lấy từng bầy.
    Âm nam dương nữ, năm vào giờ hiện ra. Âm nữ dương nam, lại xem năm Nguyên thần.
    Cùng sinh địa chi tương phùng, nên thoái thân mà xa vị trí, hung hội, cát hội, phục ngâm, phản ngâm, âm thác, dương sai, thiên xung, địa kích.
    Hoặc gặp tứ sát, ngũ quỷ, lục hại, thất thương, địa võng, thiên la, tam nguyên cửu quan đến chúc mừng phúc, hợp họa sợ nguy. Phù cần khẩn cấp, Ức là trì trệ.
    Nhiều đất quý mà đợi thời, gặp Tỉ kiên mà cạnh tranh. Về phần ngựa xấu người mệt, do đất nắm Tài vượng.
    Hoặc là Tài vượng Lộc suy, thấy Mã sao trốn kẹp xung, tuế đến ở trên không là họa, năm đăng cho nên mà nhận phúc.
    Đại cát sinh gặp tiểu cát, lại thọ lâu dài. Thiên Cương vận tới Thiên Khôi, đã sinh mà nối thọ.
    Lấy Tòng Khôi để chống Thanh Long, tài từ trời đến. Thái Xung đến đất ngang vị, nhân nguyên có hại.
    Kim lộc nghèo ở đầu chính, Canh trọng Tân khinh. Mộc bởi vì khốn ở đất kim, Dần nhiều Mão ít.
    Kì diệu ở nhận thức thông biến, nói kém như thần. Ngu muội thầy mù ở cung huyền, quy tắc khó hiếm.
    Canh Tân đến ở Giáp Ất, quân tử có thể cầu quan. Người Bắc vận ở Nam phương, mua bán thu được nhiều lợi.
    Nghe triều vui mà tối khóc, là chứa hỏa viêm dương. Nhìn chịu xa họa phúc, thì phần đa người ở thủy thổ.
    Kim mộc không thể thành khí, nghe để khó gọi vui buồn, tự mộc thịnh mà hoa nhiều, nói hình dày mà không mưa.
    Đội mũ cưỡi xe, kim hỏa sao nhiều, chỗ xấu mà gánh thấp hèn, là âm dương bất định.
    Cho nên Long ngâm Hổ khiếu, Có mưa gió trợ giúp ngừng xấu, hỏa thế đang thịnh, cho nên trước khói mà sau đó cháy sáng.
    Từng thấy trong hung có cát, cát là trước hung, trong cát có hung, dấu hiệu hung biến thành cát.
    Tuần họa hướng về cuối, suy nói phúc có thể đón, Tài nhập đất suy, luận họa nên khóa nghịch. Nam nghênh Nữ tống, phủ thái giao cư, âm dương nhị khí, nghịch thuận chiết trừ.
    Chiếm kỳ trong kim thủy, hiển ở phương chỗ phân dã, tiêu ở giữa Nam Bắc, e rằng bất lợi ở về sau. Bên trong một tuần, ở trong năm mà hỏi can, ở trong một Tuế, cầu ở trong tháng mà hỏi ngày. Hướng 3 tránh 5, chỉ phương diện lấy cùng thông, xét cát lường hung, tốt hay xấu là ở trong năm.
    Nhâm Quý là sinh Thu mà vượng ở Đông, Hợi Tý cùng đường, Giáp Ất là Hạ tử mà Xuân vinh, Dần Mão giống nhau.
    Bính Dần, Đinh Mão, mùa Thu nên lấy giữ gìn; Kỷ Tị, Mậu Thìn, đo cung Càn mà thoát ách.
    Gặp bệnh lo bệnh, gặp sinh được sinh, vượng tướng tài hoa, hưu tù diệt tuyệt, luận kỳ quyến thuộc, lo nhất tử tuyệt.
    Mộ ở trong Quỷ, nguy thì sợ nặng, đủ để đeo tang, có thể thấy trước mắt.
    Dựa vào âm Sát dương Họa, Tuế tinh chớ phạm ở Cô thần, là dương giám lấy âm tai, quanh năm kị gặp ở Quả tú.
    Trước tiên luận nhị khí, sau học cuộc đời. Cha bệnh suy ra từ Tử (con) Lộc, đoán vợ có họa lấy ở tuổi chồng.
    Ghi chú: Cha bệnh như Giáp lấy Bính là con, Giáp ở Bính giống như cha bệnh tất được con trợ giúp mới có thể cứu, sinh tử yên ổn tai họa cũng như vậy. Ngũ hành đều giống như chỗ này. 】
    Ba cung gốc gặp cát, họa có thể mời suy, từ đầu đến cuối đều hung, họa chợt đến mà nhanh chóng.
    Trạch Mộ ( nhà ở, mồ mã) bị sát, lấy vết nhơ mà rên rỉ, tang điếu gần bên người, biến cung thương thành củ kiệu.
    Can suy đều trọng, đề phòng tai họa ở người đứng đầu trong nhà, chi gãy nhẹ nhiều, cẩn thận họa bên trong ở cánh tay đắc lực ( âm giống như người làm công ), ở dưới người đứng đầu, người giúp đỡ bỏ nhà mà đi.
    Nhân mà bất nhân, lo tổn phạt ở Mậu Kỷ, về phần cuộc sống hàng ngày của thị vệ, vật có quỷ vật, người có người quỷ, gặp là tai họa, khử đi là phúc.
    Trong đó lỏa hình mà hợp Sát, chán nãn đến kinh đô, chỗ phạm có tổn thương, hồn quy về Đại Lĩnh.
    Hoặc là hành đến xuất nhập, đến phạm phương hung, chỗ cầu giá thú, đường đi thất bại.
    Họa phúc vị trí ở bên trong Tuế niên, phát hiện từ xung kích ngày giờ. Ngũ thần tương khắc, tam sinh định mệnh. Mỗi khi thấy Quý nhân Thực Lộc, không phải là đất Lộc Mã, nguyên trọc phục ngâm, là đất thất bại đau buồn.
    Điên khùng sao ở Câu Giảo, Họa Bại phát sinh ở gốc diệt vong. Trạch mộ cùng xứ, e rằng ít vui mà nhiều lo sầu, nghìn dặm trở về còn hơn, chính là đất nhiều lần quay về.
    Ghi chú: Trước mệnh cung 5 thần là Trạch ( chỗ ở), sau mệnh cung 5 thần là Mộ ( mồ mã). Như cung mệnh Tý, Thìn là Trạch, Mùi là Mộ. Còn lại theo chỗ này mà suy ra. 】
    Cha có Tứ Sát, đa số nam sinh Ngũ Quỷ, đồ lục hại, mệnh có việc tổn thương cùng tuần.
    Tình cảm quyến thuộc giống như thủy hỏa, đất gặp tương phùng ở mộc, nửa đường cốt nhục phân ly, Cô Tú càng sợ ở Cách Giác.
    Cần phải rõ Thần Sát đo lường khinh trọng, thân khắc Sát mà còn nhẹ, Sát khắc thân mà càng nặng.
    Về phần Bát Quái tuần hoàn, bởi vì di văn trong Hà Lạc, lược định làm một, nghiên cứu trở thành vạn chữ.
    Nếu gặp trèo yên dẫm lộc, gặp thì đeo ấn cưỡi xe, Mã xấu Tài bé, gặp thì lưu mà không phản.
    Ghi chú: Trèo lên yên, là khí Thái tuế Lưu niên, dụng Mã thì dụng cái yên, có Mã không có yên thì không dụng, gọi là Mã bại không có yên, không có đều là không trói buộc. 】
    Xem không thể bái lạy, Giáp Ngọ lấy kỳ hạn 4, 8, văn thư khẩu thiệt, Kỷ Hợi cẩn thận 32. Thiện Ác làm bạn, động xa di dời. Trì Khâu kẹp Sát, khóc tiễn thân nhân.
    Ghi chú: Trì Khâu là nói ngày và giờ củng một chữ Tài, giống như Củng Lộc. 】
    Kiêm phải nắm chắc hiểu rõ, xem kĩ nặng nhẹ, luận kỳ hình cốt, xem trọng mượn ở tâm nguồn gốc. Mộc khí thịnh mà thịnh lòng nhân ái, Canh Tân suy mà ít nghĩa.
    Thêm sao Ác mà có hỷ, nghĩ xem người tài, Phúc tinh lâm mà họa phát, mà theo người hung.
    Xứ định cầu động, khắc không hết mà khó di dời, ở chỗ cư an mà hỏi nguy, có thể trong hung mà gặp cát.
    Quý mà quên tiện, họa tự sinh xa, mê mà không phản, lấy mê mà họa theo.
    Khác thường dễ cũ, xứ biến là mầm họa, phúc thiện họa dâm, báo khác cát hung.
    Về phần quý chủ công minh, trên không có chữ nhận thay đổi, cảnh thuần thư thả, lại không so với hình thể kì diệu.
    Đức trọng Quỷ Thần kinh,
    Tài cao Long Hổ phục.

  4. Cảm ơn bởi:


  5. #203
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Jun 2014
    Bài viết
    747
    Phép luận tóm tắt bát tự

    Dụng là Quan không thể tổn thương.
    Dụng là Tài không thể bị Kiếp (cướp đoạt).
    Dụng là Ấn không thể có phá.
    Dụng là Thực không thể bị đoạt.
    Dụng là Lộc không thể thấy xung.
    Nếu có Thất Sát cần phải chế,
    Chế phục thái quá lại thành hung.
    Nếu dụng Thương quan cần phải tĩnh,
    Đây là Tử Bình vạn pháp tông.
    Thương quan sợ nhất là Quan vận,
    Chính Quan thích nhất thấy Tài tinh.
    Ấn thụ thích Sát sợ Tài vị,
    Dương Nhận sợ xung nên đón hợp.
    Tỉ kiên cần gặp Thất Sát chế.
    Thất Sát hỷ thấy Thực thần hình.
    Có Lộc sợ thấy Quan tinh đến.
    Thực thần thích nhất Thiên Tài đến.
    Đây là Tử Bình trọng yếu pháp,
    Giang hồ thuật giả nên tỏ tường.
    Lại không dụng Tài có thể Kiếp.
    Không dụng Quan tinh có thể Thương.
    Không dụng Ấn thụ có thể phá.
    Không dụng Thực thần có thể đoạt.


    Hội mệnh yếu thuyết


    Nói về tạo ra mệnh thư, tiên hiền đã bao hàm tận cùng trời đất mà rất tinh vi vậy. Chư công từ thời Đường Lý Hư Trung, Nhất Hành Thiện sư, Đông trai Tống Từ Thăng, Minh Vương Quế, Túy Tỉnh Tử, giác ngộ đưa ra Uyên nguyên Uyên Hải, phụ họa lý lẽ, từ đầu đến đuôi, chẳng qua là thủy hỏa thổ kim thủy vi diệu mà thôi. Ngày nay hậu học, làm thêm chỉ ý khẩu quyết, chớ không phải tiên hiền đã phát ra ý thừa, cơ bản là giống nhau. Ngày nay đem hai quyển Uyên Hải hợp thành một tập, khái quát dễ hiểu. Không cần tìm kiếm hai quyển, đơn giản cắt bớt, vĩnh viễn thành công thức.

    (HẾT)

    ***********************
    Đức trọng Quỷ Thần kinh,
    Tài cao Long Hổ phục.


 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •