Chào mừng đến với Tử Bình diệu dụng.
Trang 1 của 21 12311 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 203
  1. #1
    Thân hữu

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    680

    Uyên Hải Tử Bình toàn tập!

    UYÊN HẢI TỬ BÌNH TOÀN TẬP

    Tác giả: Từ Đại Thăng (Trung Quốc)
    Người dịch: Hùng804


    Tựa

    Lý lẽ Uyên Hải Tử bình, bắt đầu có từ Đại phu Lý Công Hư Trung thời nhà Đường, lấy năm tháng ngày giờ người sinh, sinh khắc vượng tướng, hưu tù chế hóa, quyết định cả đời, ứng nghiệm như thần vậy. Cùng với các chư vị họ Công, Hoăng, Xương, Lê, Hàn, Công làm ra tác phẩm Mộ chí để ghi nhớ, sau đến Lữ Tài đại phu lại chế định, cũng không kể ra ai là tác giả. Đến thời Tống có Từ Đại Thăng lại lấy nhật chủ con người sinh phân ra làm lục sự, nghị luận tinh vi, ý là tập hợp lại nhiều nhà nho làm ra sách 《 Uyên Hải 》, truyền bá cho đến nay, biết tất cả tổ tông. Về sau có nhiều nhà, sao lục tập Uyên Nguyên, phụ họa nghĩa lý văn chương, cho đến nay đã mấy trăm năm rồi. Bản tịch sai lầm có Hợi heo lỗ ngư, nghĩa lý học giả ít biết. Thời Kim Đường vua khen ngợi làm nghi lễ thỉnh cầu tinh thông lý lẻ này, lấy hai sách hợp lại, thêm khẩu quyết, đúng là sai lầm bịp bợm. Ôi! không treo bình mà hóa gậy, ai có thể dễ dàng thay đổi. Hành khắc hậu thế, để kẻ học sau, không thể phạm tới người xưa. Thành sách, chỉ có thời Đường, ghi chép ngoài còn lại để dẫn.
    Sùng Trinh (niên hiệu của Vua Tư Tông thời nhà Minh bên Trung Quốc, công nguyên 1628-1644), Đầu mùa Đông năm thứ 7, ngày tốt khắc trùng.

    ***********************
    "Thỏ tử Cẩu phanh"

  2. Cảm ơn bởi:


  3. #2
    Thân hữu

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    680
    Quyển một (1).
    Luận Bắt nguồn chỗ sinh ra ngũ hành
    Bởi do trời đất chưa phân ra, lúc đang còn hỗn độn; Càn Khôn chưa phân chia, gọi là Phôi thai; chưa sinh ra Nhật Nguyệt Tinh Thần, âm dương nóng lạnh cũng chưa phân ra vậy. Ở bên trên thì không có mưa sương, không có mây gió, không có sương tuyết, không có sấm chớp, chẳng qua chỉ là một màn u tối. Ở bên dưới thì không có cây cỏ, không có sông núi, không có cầm thú, không có con người, chỉ là cảnh tượng tối đen âm u. Lúc kết thành Nhất Khí, vì vậy Thái Dịch sinh thủy ( chưa có khí gọi là Thái Dịch ), Thái Sơ sinh hỏa ( có khí nhưng chưa có hình gọi là Thái Sơ ), Thái Thủy sinh mộc ( có hình chưa có chất gọi là Thái Thủy ), Thái Tố sinh kim (có chất chưa có thể gọi là Thái Tố ), Thái Cực sinh thổ ( chính là hình thể đã có đầy đủ gọi là Thái Cực ). Do đó, thủy số 1, hỏa số 2, mộc số 3, kim số 4, thổ số 5. Đến lúc này Tam Nguyên đã Cực, hỗn độn nhất phán, chính là phôi thai chia ra. Thanh nhẹ là Thiên, Trọc nặng là Địa. Nhị khí cùng hỗ trợ nhau, đã phát sinh Lưỡng Nghi, hóa mà thành thiên, bắt đầu từ chỗ này vậy. Hoặc đầu chim mà hình người, hoặc là đầu người mà thân rắn. Không có thèm muốn, không có danh tính, không có quốc gia, không có quân thần. Sống thành đàn, ăn lông ở lỗ, cho dù mưa gió, thân sơ họ hàng như nhau, không biết cha con. Không ăn ngũ cốc, ăn lông uống máu, cùng sống vui vẻ. Đến khi thánh hiền xuất hiện ( xưng là Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế ), phân ra hai ngôi trí tuệ và ngu dốt, rồi nảy ra quân thần phụ tử, quy định nghi lễ áo quan. Than ôi! bỏ Đại đạo mà sinh gian trá, yêu quái xuất hiện. ( là lúc trời mở ra ở Tý, đất mở ra ở Sửu, người sinh ra ở Dần, nghĩa là bắt đầu lập ra trời đất. Vạn vật thì sinh ra, gian trá cũng bắt đầu, yêu quái cùng xuất hiện. )
    Lời giải thích: "Hỗn độn phôi thai", là lời nói ví von giống như con gà con, chưa rõ thanh hay trọc."Hợp lại chồng chất", hình thù hỗn độn đều không phân biệt."Nhất phán, nãi phân", ý là đã có trời đất. "Trác", là miệng con chim vậy."Sào xứ huyệt cư", là kết tổ ở trên cành cây, thân thể là theo ở trên trời."Ẩm huyết như mao", không có lửa, phải ăn vật tươi sống. "Yêu quái", gọi là thần Xuy Vưu. 】
    "Thỏ tử Cẩu phanh"

  4. Cảm ơn bởi:


  5. #3
    Thân hữu

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    680
    Luận chỗ sinh ra thiên địa can chi
    Thiết nghĩ sinh ra gian trá, sinh ra yêu quái. Thời Hoàng đế có thần Xi Vưu nhiễu loạn, lúc này là, Hoàng Đế rất khổ cựa lo lắng cho dân, liền chiến đấu với Xi Vưu ở nơi Trác Lộc ( Trác Lộc, là tên một Quận). Máu chảy trăm dặm, không thể cai trị ( thời Đế thủy chế tạo binh khí ), Hoàng Đế bèn lập đàn trai giới cúng tế trời đất, lễ nghi ở trên gò đất. Trời bèn giáng xuống Thập Can ( tức là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý ), Thập nhị Chi ( tức là: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi ). Vua bèn đem hết Thập can sắp xếp thành hình tròn, tượng hình là trời; thập nhị chi đem xếp thành hình vuông, tượng hình là đất. Mới lấy can là trời, chi là đất, hợp lại làm cửa ải để dựa vào đó mà cai quản, sau đó liền cai trị được vậy ( chỗ này là sinh ra Thập Can, Thập nhị Chi vậy). Từ đó về sau có họ Đại Nạo, là người đời sau lo âu nói: Ô hô! Hoàng Đế là Thánh nhân, không thể không chú trọng trừng trị ác sát, vạn nhất hậu thế sẽ thấy tai họa mà bị khổ, phải làm sao đây! Vì thế nói đem Thập Can, Thập nhị Chi phân phối thành Lục thập Giáp Tý.
    Thập thiên can chỗ thuận âm dương:
    Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý
    Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm
    Giáp Bính Mậu Canh Nhâm thuộc dương, Ất Đinh Kỷ Tân Quý thuộc âm.
    Lời giải thích: "Vua bèn đem Thập can xếp thành vòng tròn, tượng hình là trời; thập nhị chi xếp thành hình vuông, tượng hình là đất", ở chỗ này bắt đầu nói đến trời tròn đất vuông. 】
    Chú thích: Chỗ này có đồ hình thiên can và địa chi.
    "Thỏ tử Cẩu phanh"

  6. Cảm ơn bởi:


  7. #4
    Thân hữu

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    680
    Thiên can tương hợp
    Giáp và Kỷ hợp ( Giáp thuộc mộc, Kỷ thuộc thổ, mộc lấy thổ làm thê tài, cho nên được hợp ), Ất và Canh hợp, Bính và Tân hợp, Đinh và Nhâm hợp, Mậu và Quý hợp ( ý tương hợp giống như ở trên).
    Lời giải thích: Giáp đếm thuận tới Kỷ, được hợp thành Lục Âm, nói số đảo nghịch thuận, còn lại làm theo chỗ này. 】
    Luận Thập can chỗ thuộc phương vị chỗ thuộc thập nhị chi
    Giáp Ất mộc thuộc Đông phương ( Vị trí Dần Mão Thìn là Đông phương, tượng là Thanh Long), Bính Đinh hỏa thuộc Nam phương ( vị trí Tị Ngọ Mùi là Nam phương, tượng là Chu Tước), Mậu Kỷ thổ chủ Trung Ương ( vị trí Thìn Tuất Sửu Mùi, tượng là Câu Trần, Đằng Xà), Canh Tân kim thuộc Tây phương ( vị trí Thân Dậu Tuất là Tây phương, tượng là Bạch Hổ), Nhâm Quý thủy chủ Bắc phương (vị trí Hợi Tý Sửu là Bắc phương, tượng là Huyền Vũ).
    Đúng thời Đại Nạo tuy là lấy Giáp Ất thuộc mộc, Bính Đinh thuộc hỏa, Mậu Kỷ thuộc thổ, Canh Tân thuộc kim, Nhâm Quý thuộc thủy. Còn lấy chi Dần Mão thuộc mộc, Tị Ngọ thuộc hỏa, Thân Dậu thuộc kim, Hợi Tý thuộc thủy, Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc thổ, lý này nghĩa là sao vậy?
    Hoặc viết: Đông phương có thần Thái Hạo, nhận cung Chấn nắm giữ quy tắc điều khiển mùa Xuân, sinh ra lòng nhân ái và hòa thuận, vạn vật phát sinh, cho nên mộc bắt đầu từ ở chỗ này, cùng với Giáp Ất Dần Mão vậy.
    Nam phương có vua Thần Nông, nhận cung Ly nắm giữ mùa Hạ, sinh ra mặt trời xinh đẹp khốc khí, vạn vật đến chỗ này đều như nhau, cho nên lý do hỏa ở đây, cùng Bính Đinh Tị Ngọ vậy. ( mùa Hạ chủ nuôi dưỡng vạn vật, cây cối xanh tốt rậm rạp, tất cả đều nhờ công đức của hỏa vậy. )
    Tây phương có thần Thiếu Hạo, nhận cung Đoài nắm giữ mùa Thu, khí sinh yên tĩnh mà xơ xác tiêu điều, vạn vật đến chỗ này đều thu lại, cho nên lý do kim ở đây, cùng Canh Tân Thân Dậu vậy. ( khí mùa Thu là kim như đao, khí khái tiêu điều xơ xác, cây cỏ đều điêu tàn, lúc khí thành thục thu vào. )
    Bắc phương có thần Chuyên Đế, nhận cung Khảm nắm giữ mùa Đông, khí phát sinh ngưng kết chặt chẽ, vạn vật đến chỗ này đều ẩn tàng, cho nên lý do thủy ở đây, cùng Nhâm Quý Hợi Tý vậy.
    Trung Ương có thần Hoàng Đế, nhận cung Khôn thổ nắm giữ ở giữa, huống chi mộc hỏa kim thủy tất cả đều không thể không có thổ, cho nên đem Mậu Kỷ ở Trung Ương, Thìn Tuất Sửu Mùi phân tán ra bốn góc, chiếm lấy tất cả. ( Tứ Duy ( là bốn góc), tháng 3 mùa Xuân, tháng 6 mùa Hạ, tháng 9 mùa Thu, tháng 12 mùa Đông. )
    Hà Công luận viết: Nếu trời không có thổ, không thể tròn che chở ở trên; nếu đất không có thổ, không thể dày lớn mà tải đầy đất, mà không sinh ngũ cốc; người nếu không có thổ, ở trong không thể di chuyển, không lập ngũ hành ( nói Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín là ngũ thường, kim mộc thủy hỏa thổ là ngũ hành ). Chỗ này Tam Tài không thể thiếu thổ vậy (Tam Tài còn gọi là Thiên Địa Nhân ). Mộc nếu không có thổ, không có lực tái bồi; hỏa nếu không có thổ, không thể chiếu sáng khắp bốn phương; kim nếu không có thổ, khó thành khí sắc nhọn; thủy nếu không có thổ, sóng không thể ngập tràn đê; thổ nếu không có thủy, vạn vật không thể nuôi dưỡng. Cho nên chỗ này ngũ hành đều không thể không có thổ. Bởi thế thổ ở Trung Ương, phân tán ra bốn góc, mà thành lập ngũ hành vậy.
    Lời giải thích: Giáp Ất mộc màu xanh, Bính Đinh hỏa màu đỏ, Mậu Kỷ thổ màu vàng, Canh Tân kim màu trắng, Nhâm Quý thủy màu đen. Mộc chủ Nhân, hỏa chủ Lễ, kim chủ Nghĩa, thủy chủ Trí, thổ chủ Tín."Thái Hạo", là vua Phục Hi."Chuyên Đế", là vua Cao Dương, xưng là Hoàng Đế. Thổ màu vàng, Hoàng Đế lấy đức tín cai trị thiên hạ, cho nên xưng là Hoàng Đế. Chỗ này là luận về Thập Can vậy. 】
    "Thỏ tử Cẩu phanh"

  8. Cảm ơn bởi:


  9. #5
    Thân hữu

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    680
    Luận chỗ thuộc về âm dương Thập nhị Địa chi
    Tý Sửu Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi
    Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm
    Luận Thập nhị Chi lục hợp
    Tý và Sửu hợp thổ, Dần và Hợi hợp mộc, Mão và Tuất hợp hỏa, Thìn và Dậu hợp kim, Tị và Thân hợp thủy, Ngọ và Mùi hợp hỏa, Ngọ là Thái Dương, Mùi là Thái Âm vậy.
    Luận Thập nhị Chi tam hợp
    Thân Tý Thìn thủy cục, Hợi Mão Mùi mộc cục, Dần Ngọ Tuất hỏa cục, Tị Dậu Sửu kim cục, Thìn Tuất Sửu Mùi thổ cục. ( thông thường xem mệnh lấy tam hợp thủ dụng làm cục nhập cách. )
    Lời giải thích: Hợp cục là quý, nhưng ngũ hành phải thuận nhau. 】
    Luận Thập nhị Chi tương Xung
    Tý Ngọ tương xung, Dần Thân tương xung, Mão Dậu tương xung, Thìn Tuất tương xung, Tị Hợi tương xung, Sửu Mùi tương xung. ( Tý cung Quý thủy, Ngọ cung Đinh hỏa, cho nên thủy có thể khắc hỏa vậy. Dần cung Giáp mộc, Thân cung Canh kim, cho nên kim khắc mộc vậy. Lấy trong chi có ám hại là xung, còn lại theo chỗ này mà suy. )
    Lời giải thích: Tương xung nhưng có được gặp hợp thì không thể xung.】
    Luận Thập nhị Chi tương Xuyên ( còn gọi là Hại)
    Tý Mùi tương xuyên, Sửu Ngọ tương xuyên, Dần Tị tương xuyên, Mão Thìn tương xuyên, Thân Hợi tương xuyên, Dậu Tuất tương xuyên.
    【Lời giải thích: Tương xuyên là hại, phạm chỗ này là tổn hại lục thân, không lấy khó khăn trở ngại mà luận. 】
    Luận Thập nhị Chi Tương Hình
    Dần hình Tị, Tị hình Thân, Thân hình Dần, gọi là hình thế; Sửu hình Tuất, Tuất hình Mùi, Mùi hình Sửu, gọi là hình vô ân; Tý hình Mão, Mão hình Tý, gọi là hình vô lễ; Thìn Ngọ Dậu Hợi, gọi là tự hình.
    "Thỏ tử Cẩu phanh"

  10. Cảm ơn bởi:


  11. #6
    Thân hữu

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    680
    Luận ý nghĩa Can Chi
    Quần Thư Khảo Dị 》 viết: Giáp là nứt ra vậy, là nói giải phẩu vạn vật mà ra chữ Giáp vậy. 《 Dịch 》 viết: Trăm loại quả của cây cỏ đều nứt ra từ Giáp. Ất là nói lúc vạn vật mới sinh ra bị cong lại mà không duỗi ra thẳng vậy. Bính là nói vạn vật sáng chói mà thấy rõ ràng. Đinh là nói hình dạng vạn vật đầy đặn khỏe mạnh, cho nên 《 Bang Quốc Đồ Tạ 》 viết: là con trai trưởng thành. Mậu, xum xuê vậy, là nói vật rất hưng thịnh, cho nên 《 Hán Chí 》 viết: tội nghiệt nhiều là do ở Mậu vậy. Kỷ, là kỷ luật vậy, nói vạn vật đã có hình, có thể biết kỷ luật vậy. Canh, là tướng mạo kiên cường, là nói vạn vật thu lại mà có hạt vậy. Tân, là nói phương vạn vật hưng thịnh mà lấy chế tạo, cho nên vất vã đau đớn vậy. Nhâm, là mang thai vậy, âm dương giao nhau, là nói vạn vật từ khi mang thai cho đến khi ra đời vậy. Quý là lúc mùa Đông thổ đã yên ổn, vạn vật có thể tính toán đo lường vậy. Tý, là lớn thêm vậy, khí dương bắt đầu nảy sinh nghiệt ngã, ở dưới mọc lên vậy. Sửu, là buộc, thắt vậy, khí lạnh tự co vào vậy. Dần, là xương đầu gối vậy, khí dương muốn phát ra, khí âm còn mạnh mà ở dưới phát triển xương đầu gối. Mão là bốc lên vậy, vạn vật bất chấp mặt đất mà đi ra. Thìn, kéo duỗi ra vậy, tất cả mọi vật đều duỗi ra. Tị, là dừng lại vậy, khí dương đã dừng lại vậy. Ngọ, xác chết vậy, âm dương giao nhau kinh sợ mà giống như xác chết vậy. Mùi, là che dấu, là mơ hồ, là me muội vậy, quá trưa thì mặt trời ngã về tây, mặt trời xế dần hướng về đêm vậy. Thân, là duỗi ra trói buộc lại đã hoàn thành, cho nên 《 Tấn Chí 》 viết: Tất cả thân thể vạn vật đã hoàn thành vậy. Dậu, là thành tựu vậy, vạn vật đã thành thục. Tuất, là tiêu diệt vậy, vạn vật đã bị tận diệt. Hợi, là hạt vậy, vạn vật thu tàng, tất cả thành hạt cứng vậy.
    Luận cầm tinh của Thập nhị Chi
    Tý dương, Sửu âm, Dần dương, Mão âm, Thìn dương, Tị âm, Ngọ dương, Mùi âm, Thân dương, Dậu âm, Tuất dương, Hợi âm.
    Thất Tu Loại Toản 》 viết: Nhân Hòa Lang Hán nói: Địa chi thuộc 12 loài vật, lấy tính cách không được đầy đủ. Lấy Tý mà nói, lại sao không có đủ 12 chăng? Lấy ở dưới địa chi, đều lấy vuốt chân theo âm dương mà phân chia. Như Tý dù thuộc là dương, trước 4 khắc là ban đêm là âm, sau 4 khắc là ngày hôm nay là dương. Cho nên 4 móng chân trước của Chuột tượng là âm, 5 móng chân sau của Chuột tượng là dương vậy. Sửu thuộc âm, trâu bò cũng là 2 móng chân vậy; Dần thuộc dương, Cọp có 5 vuốt chân; Mão thuộc âm, Thỏ khuyết môi mà có 4 móng chân vậy. Thìn thuộc dương, Rồng đúng có 5 vuốt chân. Tị thuộc âm, lưỡi Rắn chia làm hai vậy. Ngọ thuộc dương, móng Ngựa hình tròn vậy. Mùi thuộc âm, móng chân con Dê cũng chia hai vậy. Thân thuộc dương, Khỉ có 5 móng chân. Dậu thuộc âm, chân Gà có 4 móng vậy. Tuất thuộc dương, Chó có 5 móng chân vậy. Hợi thuộc âm, Móng chân Heo cũng chia hai vậy.
    Lại viết: Tý là cực âm, chỗ âm u mờ mịt vậy, lấy Chuột phối nhau, Chuột ẩn giấu kín đáo vậy. Ngọ là cực dương, lộ rõ tính mạnh mẽ, lấy Ngựa phối nhau, Ngựa đi nhanh vậy. Sửu cũng là âm, chỗ này nơi sinh sản hiền lành, lấy Trâu bò phối nhau, trâu bò có con bê con hiền lành. Mùi cũng là âm, ngửa mặt cung kính nghi lễ, lấy Dê phối nhau, Dê khi sinh sản quỳ xuống. Dần là tam dương, dương thắng thì hung bạo, lấy Cọp phối nhau, tính Cọp là hung dữ vậy. Thân là tam âm, âm thắng thì xảo quyệt, lấy Khỉ phối nhau, tính Khỉ ranh mãnh vậy. Mặt trời sinh ở hướng Đông mà hướng Tây có Dậu Gà, mặt trăng sinh ở Dậu mà hướng Đông có Mão Thỏ, chỗ này nghĩa là âm dương giao cảm, cho nên nói Mão Dậu là cánh cửa riêng của Nhật Nguyệt vậy. Nói Thỏ liếm lông con đực mà có mang thai, Gà phối hợp đạp lên nhau mà không nhìn thấy, đều có tình cảm mà không giao nhau, cho nên Mão Dậu thuộc Gà và Thỏ. Thìn Tị khởi từ dương mà làm việc cần mẫn, Rồng là mạnh mẽ, tượng hình là Rắn, cho nên lấy Rồng Rắn phối chỗ này, Rồng Rắn là vật biến hóa vậy. Tuất Hợi khởi là âm mà thu lại ẩn náu, Chó chủ về đêm, Heo thì điềm tĩnh, cho nên Chó Heo phối chỗ này. Chó Heo, là vật trông giữ vậy. Chỗ này nhà nho luận cũng rõ ràng, cho nên phải nhớ kĩ càng.
    Lời giải thích: Lấy 5 là dương, 4 là âm. Tròn là dương, vuông là âm. Gọi là "Bất toàn" vì: Chuột không có con ngươi, Trâu không có răng, Cọp không có gáy, Thỏ không có nhìn, Rồng không có tai, Rắn không có chân, Ngựa không có túi mật, Dê không có con ngươi, Khỉ không có quai hàm, Gà không có quả thận, Chó không có bao tử, Heo không có gân. 】
    "Thỏ tử Cẩu phanh"

  12. Cảm ơn bởi:


  13. #7
    Thân hữu

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    680
    Luận nạp âm Lục thập hoa Giáp Tý cùng chú giải
    Nói đến Giáp Tý, bắt đầu bởi họ Đại Nạo, còn nạp âm là từ Quỷ Cốc Tử, thành tượng bởi Đông Phương Mạn Thiến Tử. Thời Mạn Thiến Tử đã thành tượng, hiệu viết là: "Hoa Giáp Tý" . Nhưng Giáp Tý, từ Tý đến Hợi, 12 cung đều thuộc về kim mộc thủy hỏa thổ. Bắt đầu khởi ở Tý, là Nhất Dương. Cuối cùng ở Hợi, là Lục Âm. Chỗ thuộc về ngũ hành, giống như thế sự của con người vậy. Tại sao gọi là thế sự? Đại để Ngũ Hành kim mộc thủy hỏa thổ, ở trên trời gọi là Ngũ tinh, ở dưới đất gọi là Ngũ Nhạc, ở đạo đức gọi là Ngũ Thường, ở con người gọi là Ngũ Tạng, ở sinh mệnh cũng gọi là Ngũ Hành. Do đó Giáp Tý là ứng với ở mệnh, mệnh là chuyện cả đời, cho nên Giáp Tý là tượng nạp âm. Lúc Thánh nhân thuyết minh, cũng như sự tình của một đời người vậy. Sự việc một đời, chỗ Thánh nhân truyền lại là Tam thập nhi lập, Tứ thập nhi bất hoặc, Ngũ thập nhi tri thiên mệnh, Lục thập nhi nhĩ thuận, Thất thập nhi tòng tâm ( Ý là, 30 tuổi lập nghiệp, 40 tuổi biết đúng sai mà không lầm lỡ, 50 tuổi mới biết mệnh trời, 60 tuổi mới biết thuận theo mệnh, 70 tuổi mà theo tâm ý). Tượng Giáp Tý, từ Tý cho đến Hợi, lý lẽ rõ ràng vẫn có thể nhìn thấy vậy. Còn như hai vị Tý, Sửu, âm dương mở đầu có mang thai, người đang ở bào thai, vật tàng ở hạt cây, chưa có ranh giới vậy. Hai vị Dần Mão, âm dương dần dần thông suốt, người dần dần sinh trưởng, vật theo Giáp tách ra, bầy hoa dần dần nở rộ, như con người sinh ra mà lập thân vậy. Hai vị Thìn Tị, khí âm dương hưng thịnh, vật nở hoa rộ, con người đến 30, 40, mà có đất lập thân, tượng tiến thủ. Hai vị Ngọ Mùi, âm dương lộ ra rõ ràng, tìm tọi cùng nhau mà hợp thành, con người đến 50, 60, phú quý bần tiện có thể biết ngay, phàm việc hưng suy có thể thấy vậy. Hai vị Thân Dậu, âm dương xác xơ tiêu điều, vật dừng lại thu nhoạch, người đã chùn chân rụt cổ, tất cả phải yên tĩnh vậy. Hai vị Tuất Hợi, âm dương đã bế tắc, khí vật trở về gốc cội, người cũng ngừng nghĩ, tất cả đều trở về gốc vậy. Nhưng chỉ tường thuật rõ ràng trước sau 12 vị mà vẫn có thể nhìn thấy, ở Lục thập Giáp Tý theo thứ tự mà biết rõ vậy.
    Lời giải thích: Thời nhà Chu có Vương Hủ hiểu đạo, ẩn ở thanh khê Quỷ cốc, thế gian gọi là Quỷ Cốc Tử. "Ngũ tinh", là kim tinh, mộc tinh, thủy tinh, hỏa tinh và thổ tinh."Ngũ thường", là Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín. "Ngũ hành", là kim mộc thủy hỏa thổ. "Thủy dựng", giống như người đàn bà mới mang thai ở trong bụng. "Chiết Giáp", giống như nói tách cây măng vẫn có võ ở bên ngoài. "Quần ba", giống như nói hoa có hoa gạo, có hoa cỏ. "Lập thân" giống như thắt đai lưng ở triều đình, thịnh vượng mà hành đạo vậy. Người 50, 60 tuổi có thể thấy quý tiện, đến khi con người 70 tuổi, tinh thần suy nhược, cũng đã hết số, là bất lực vậy. 】
    "Thỏ tử Cẩu phanh"

  14. Cảm ơn bởi:


  15. #8
    Thân hữu

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    680
    + Giáp Tý, Ất Sửu là Hải Trung kim —— vì Tý thuộc thủy, lại là hồ nước, lại là đất thủy vượng. Gồm cả kim tử ở Tý, mộ ở Sửu, thủy vượng mà kim tử mộ, cho nên viết là Hải Trung kim ( vàng trong biển) vậy. Lại viết: Khí ở ẩn tàng, vật cực thì tiềm ẩn.
    Lời giải thích: hình thể kim đi ở đường thủy, là tính nhược mà thể hàn. 】
    + Bính Dần, Đinh Mão là Lư Trung hỏa —— vì Dần là Tam Dương, Mão là Tứ Dương, hỏa đã đắc vị, lại lấy Dần Mão mộc sinh. Lúc này trời đất mở ra bếp lò lửa, vạn vật bắt đầu phát sinh, cho nên viết là Lư Trung hỏa ( lửa trong bếp lò) vậy. Trời đất là lò lửa, âm dương là than củi.
    Lời giải thích: Hình hành dương, mà thế lực dần tăng, núi cao dựng thẳng mà dừng. 】
    + Mậu Thìn, Kỷ Tị là Đại Lâm mộc —— vì Thìn là vùng quê, Tị là Lục Dương. Thủy tới Lục Dương thì càng tốt lá xanh rậm rạp, vì đại lâm mộc xanh tốt mà sinh trưởng ở giữa vùng quê, cho nên viết là Đại Lâm mộc vậy (rừng cây cổ thụ). Âm thanh lan truyền lên chín tầng mây, khuynh hướng âm sinh vạn vật.
    Lời giải thích: Rồng Rắn giấu hình, khí đang thành hình, vật đã lộ ra cây. 】
    + Canh Ngọ, Tân Mùi là Lộ Bàng thổ —— vì mộc có ở trong Mùi, vượng hỏa sinh ở bên trong Ngọ, hỏa vượng thì thổ nhận hình phạt ở chỗ này. Chỗ sinh thổ, chưa thể nuôi dưỡng vật, giống như Lộ Bàng thổ vậy ( thổ bên đường). Cùng với thời gian cường tráng, đủ dày mới tải mộc, mộc nhiều không thích.
    Lời giải thích: hình thổ có chất, có vật thì có hình. 】
    + Nhâm Thân, Quý Dậu là Kiếm Phong kim —— vì là chính vị Thân Dậu kim, bao gồm cả Thân ở lâm quan, dậu là đế vượng. Kim đã sinh vượng, thì trở thành cương cứng vậy. Cương thì không vượt qua khỏi thanh kiếm, cho nên viết là Kiếm Phong kim ( Thanh gươm vàng) vậy. Hai ngôi sao Đẩu và Ngưu phát ra ánh sáng cầu vòng, gươm sắc ngưng tụ sương tuyết.
    Lời giải thích: Nắm tính kiên cường, vật cần sinh vượng, chính là công thành không thoái lui sẽ tổn thương hòa khí. 】
    "Thỏ tử Cẩu phanh"

  16. Cảm ơn bởi:


  17. #9
    Thân hữu

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    680
    + Giáp Tuất, Ất Hợi là Sơn Đầu hỏa —— Vì Tuất Hợi là Thiên Môn, ngọn lửa chiếu sáng ở Thiên Môn, ánh sáng lên cao, cho nên viết là Sơn Đầu hỏa vậy (Ngọn lửa trên đỉnh núi). Ánh tà dương ở chân trời, mặt trời lặn ở đỉnh núi, tản ra đẹp đẽ vì phản chiếu, mây màu nở ra vốn là từ ánh sáng dư thừa còn lại.
    Lời giải thích: Khí như khói mù che lấp ngọn lửa, như ánh sáng bay đáp lại quẻ Càn, quay lại trong ngưng nghĩ. 】
    + Bính Tý, Đinh Sửu là Giản Hạ thủy —— Vì thủy vượng ở Tý, suy ở Sửu, vượng mà trái lại suy, thì không thể thành sông lớn, cho nên viết là Giản Hạ thủy vậy ( đưa nước xuống khe suối). Dòng suối nhỏ chảy quanh núi, tuyết phun ra mà nước chảy xiết, khuynh hướng đổ sâu vào eo sông (chỗ hai quả núi kẹp dòng sông ở giữa), cho nên ví von như khe suối vậy.
    Lời giải thích: hung ác ở lúc sinh vượng, địa vị đã nghĩ ngơi, khí đã thành vật.】
    + Mậu Dần, Kỷ Mão là Thành Đầu thổ —— Vì thiên can Mậu Kỷ thuộc thổ, Dần là Cấn là núi, thổ tích tụ mà thành núi, cho nên viết là Thành Đầu thổ vậy ( đất ở trên bức thành). Đá ngọc chồng chất ở kinh đô, Hoàng Đế ở trong lầu vàng, hình thể như Rồng uốn lượn bay đi nghìn dặm, thế lực dũng mãnh bốn phương vậy.
    Lời giải thích: Thổ thích mộc khai thông, chắc chắn thành công. 】
    + Canh Thìn, Tân Tị là Bạch Chá kim —— Vì kim dưỡng ở Thìn, sinh ở Tị, thể chất mới thành, chưa có thể kiên cố, cho nên viết là Bạch Chá kim vậy (kim bạch lạp, đèn cầy). Khí dần dần phát sinh, kim suy nhược ở mỏ quặng, ánh sáng đến nghĩ ở Nhật Nguyệt ( mặt trời và mặt trăng), tượng khí âm dương ngưng tụ.
    Lời giải thích: Kim bắt đầu bỏ đất Sửu, nên mẫu tử phân chia, tất nhiên thành lập, cần có hỏa để thành hình. 】
    + Nhâm Ngọ, Quý Mùi là Dương Liễu mộc —— Vì mộc tử ở Ngọ, mộ ở Mùi. Mộc đã bị tử mộ, dù có được thiên can Nhâm Quý thủy để sinh trưởng, cuối cùng vẫn là nhu mộc, cho nên viết là Dương Liễu mộc (cây Dương liễu). Vạn sợi dây tơ tằm nối nhau liên tiếp, như nghìn sợi tơ không có khâu lại.
    Lời giải thích: Vật dương khí thịnh, thủy tế thành công. 】
    "Thỏ tử Cẩu phanh"

  18. Cảm ơn bởi:


  19. #10
    Thân hữu

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    680
    + Giáp Thân, Ất Dậu là Tuyền Trung thủy —— Kim lâm quan ở Thân, đế vượng ở Dậu, kim đã sinh vượng, thì thủy cũng được sinh, nhưng ranh giới giữa phương sinh, lực lượng không lớn, cho nên viết là Tỉnh Tuyền thủy vậy ( nước ở trong giếng). Khí dừng mà yên tĩnh, quá mà không kiệt, ra mà không tận.
    Lời giải thích: Ổn định là tĩnh mà Thanh, rối loạn là động mà Trọc. 】
    + Bính Tuất, Đinh Hợi là Ốc Thượng thổ —— Vì Bính Đinh thuộc hỏa, Tuất Hợi là Thiên Môn, hỏa đã viêm thượng, thì thổ không ở dưới mà sinh, cho nên viết là Ốc Thượng thổ vậy ( Đất ở trên nhà ở). Do hỏa mộc còn sinh vượng, là theo thế mà tăng thêm, tới chỗ tử tuyệt, mừng để yên ổn.
    Lời giải thích: Bởi thành quả che đậy tuyết sương, sự nghiệp chấn động lấn gió mưa. 】
    + Mậu Tý, Kỷ Sửu là Phích Lịch hỏa —— Sửu thuộc thổ, Tý thuộc thủy. Thủy ở chính vị mà nạp âm là hỏa, hỏa ở trong thủy, không phải Rồng thần thì không có, cho nên viết là Phích Lịch hỏa ( Lửa sấm sét). Thế điện chớp giật như kim xà, ý nói đội quân tinh nhuệ chạy rất nhanh, tượng biến hóa.
    Lời giải thích: Khí ở Nhất Dương, hình cư ở mộc. 】
    + Canh Dần, Tân Mão là Tùng Bách mộc —— Vì mộc lâm quan ở Dần, đế vượng ở Mão, mộc đã sinh vượng, so sánh thì không có nhu nhược, cho nên viết là Tùng Bách mộc vậy. Khinh tuyết mà lấn sương, bao phủ đất mà che ngút trời cao, gió lay động biểu diễn tấu khúc nhạc, sau mưa bày cờ ra xem.
    Lời giải thích: Hỏa vượng thì mộc ẩn tàng, chính là thích thủy để thấm nhuận.】
    + Nhâm Thìn, Quý Tị là Trường Lưu thủy —— Thìn là thủy khố, Tị là đất kim trường sinh, kim thì sinh thủy, tính thủy đã tồn tại, lấy khố thủy mà kim được sinh, cuối cùng nguồn nước không bị khô kiệt, cho nên viết là Trường Lưu thủy vậy (dòng nước chảy dài). Thế ở Đông Nam, quý ở yên tĩnh.
    Lời giải thích: Đến bất tận, nạp vô tận. 】
    "Thỏ tử Cẩu phanh"

  20. Cảm ơn bởi:


 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •