Chào mừng đến với Tử Bình diệu dụng.
Trang 2 của 2 Đầu tiênĐầu tiên 12
Kết quả 11 đến 19 của 19
  1. #11
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,303
    Chương 33: Khi nào lên kiệu hoa

    Nữ mệnh này sinh vào giờ Mão ngày 23 tháng 5 năm Mậu Tuất

    Thương Thực Nhật sát
    Mậu Kỷ Đinh Quý
    Tuất Mùi Hợi Mão

    1 tuổi vào vận:

    Thương Tỷ Kiếp Kiêu Ấn
    Mậu Đinh Bính Ất Giáp
    Ngọ Tỵ Thìn Mão Dần

    Tống tiên sinh nguyên giải: Mệnh tạo này Thực Thương thái vượng, nhật nguyên Đinh hỏa khắc tiết quá mức, nên lấy Ấn tinh đến hóa khắc chế tiết làm Dụng, bởi vậy dụng mộc hỷ hỏa, kỵ thổ kim, thủy bất kỵ.

    Nguyên tắc mà Hứa Thiên Ngu luận mệnh là đầu tiên phải nói qua quá khứ. Lấy Ấn chứng minh là giờ sinh không chính xác, tiện thể khảo nghiệm luôn công lực trong lĩnh vực luận mệnh lý của mình. Nếu là trước đây luận không được chuẩn xác, nguyên do có thể giờ sinh của người này không chuẩn xác, bằng không cũng phải nói sơ qua một vài chỗ nào đó về bản thân, do sự việc của sau này không nắm được trọng điểm mà chưa có tin tức luận tiếp sau này.

    Từ mệnh nữ này mà xem, niên nguyệt Tỷ Kiếp nhập Mộ lại gặp hình, đoán anh em ruột thịt của cô này có tổn hại hoặc có người chết yểu. Cung vị tổ tiên là Kỵ thần Thương Quan thấu lộ mà thông căn có lực, duyên phận của cô này với tổ tiên rất mỏng, tổ phụ có thể đã qua đời từ khi cô ấy còn nhỏ. Cha lớn lên rất thanh tú, tài văn chương cũng khá. Sau khi cô này tốt nghiệp ở trong nước từng có một thời gian xa nhà, bởi vì Thực Thương tranh thấu thiên can lại không thấy chế hóa, giống như tự do phóng khoáng mà lòng cao ngất tận trời xanh.

    Trên thực tế, cô gái này có một chị gái khi sinh ra chưa được bao lâu đã yểu mệnh, năm 12 tuổi không may xảy ra sự cố bất ngờ mà tử vong. Hơn nữa tổ phụ của cô gái này khuất núi khi tuổi của cô ta còn rất nhỏ, đến nỗi cô ta chưa có ấn tượng gì đỗi với tổ mẫu của mình. Người cha là một nông phu làm ruộng, lúc còn là thanh niên ông là một thanh niên tuấn tú của địa phương, đồng thời có sở trường về chơi chữ. Cô ta sau khi tốt nghiệp trong nước, vì muốn học lên cao cô ta đã xa gia đình hơn một năm. Sau này do sức khỏe không hợp cô lại trở về quê hương nghỉ ngơi điều dưỡng. Về cá tính thì bản thân cô ấy cũng thừa nhận.

    Đến lúc này sự tin tưởng của Hứa Thiên Ngu lại càng tăng, liền bắt đầu dùng thử bí quyết độc môn thử hỏi thăm dò cô gái này: "Nhà cửa cô ở trong vòng bán kính 100m có phải gần một ngôi miếu thờ phải không?".

    Cô ta đáp: "Đúng vậy, có mà không chỉ có 1, to nhỏ gồm có 3, 4 ngôi miếu, tiên sinh làm sao biết?"

    Hứa Thiên Ngu sau khi uống một viên thuốc an thần hỏi tiếp: "Ở phía tay trái nhà ở của cô có một con mương nước lớn, mà thủy khí đó là chảy từ phía trước bên phải qua bên trái, đúng không?"

    Lúc này, hai mắt cô ta trợn trừng như cái chuông đồng, mặt mày vô cùng kinh ngạc hỏi "Quái lạ, có phải ông đã từng đến nhà tôi không, nếu không thì làm sao mà tiên sinh biết rõ như vậy?”

    Hứa Thiên Ngu khiêm nhường nói: "Tôi chỉ là gặp hên đoán đúng thôi, được rồi, vườn cây ăn quả nhà cô chí ít trồng 3 loại cây ăn quả trở lên.”

    Cô gái này lại phấn khởi đáp: "Ông lại đoán đúng rồi. Kỳ thực hoa quả mà nhà tôi trồng không chỉ có 3 loại. Nhưng tiên sinh nói nửa ngày rồi mà còn chưa nói đến đại sự cả đời".

    Hứa Thiên Ngu nói: "Năm cô 26 tuổi có một người bạn trai rất tri kỷ, đã luận bàn tới hôn nhân, vì sao chưa xuất giá? Bằng không năm 27 tuổi cũng có thông tin về hôn nhân."

    Cô ta nói: “Năm 26 tuổi đúng là có một người bạn trai đến tìm hiểu, đã đi lại hơn một năm, đáng tiếc là anh ta tính tình ngang ngược mà bản thân thì tôi cũng tự do phóng khoáng. Sau một lần có ý về việc nào đó mà hai bên không nhất trí với nhau nên nảy sinh cãi nhau, hai bên không chịu nhượng bộ nhau mà đổ vỡ."

    Hứa thiên ngu lại đoán: "Năm 28 tuổi trong họ hàng gần của cô có người bị hình phạt, mà bản thân cô cũng không được như ý."

    Cô ta đáp: "Đương nhiên rồi, bạn trai tri kỷ kết hôn mà cô dâu không phải là tôi, sao mà trong lòng không khỏi cảm thấy lỗi lầm ngậm ngùi. Thời gian đó mẹ tôi bị bệnh phải nằm viện một tuần. Lúc đó tâm tình đúng là quá tệ, nhưng duyên phận hôn nhân của tôi khi nào đến?”

    Bản tạo này sau 26 tuổi thì vào vận Thìn, trong Thìn có tàng Quý thủy Quan tinh, cho nên hôn kỳ hẳn là trước năm 31 tuổi sẽ có chỗ trông cậy. 26, 27 tuổi có thông tin về hôn nhân, nhưng đáng tiếc cô ta không thể nắm bắt được. 29 tuổi lưu niên Bính Dần, Dần Hợi hợp, Dần Mão Thìn tam hội, phu cung phu tinh Đào Hoa hội hợp, hẳn là sẽ có tình duyên. Năm 30 tuổi Đinh Mão, Hợi Mão bán hợp cục, Đào Hoa hợp nhập nhật trụ, có khả năng cao về hôn nhân.

    Hứa Thiên Ngu suy luận căn cứ vào ngũ hành lục thần, nghiêm mặt nói với vị tiểu thư này: "Nên sửa đổi tính khí nóng nảy một chút. Năm ngoái có tình duyên, duyên phận của năm nay rất là trọng cần phải nắm chắc lấy cơ hội. Người chồng tương lai của cô hẳn là một quân tử nho nhã, mà còn trong người có một kỹ năng cao. Nếu có người nam phù hợp với những điều kiện trên thì cô có thể nên cân nhắc đấy".

    Cuối cùng, vị tiểu thư này tương đối hài lòng: "Những điều ông vừa đoán ước chừng chính xác đến 80 mươi phần trăm, không ngờ thuật đoán số truyền thống của nước ta có giá trị tham khảo cao như vậy, tôi sẽ ghi nhớ lời dạy bảo của tiên sinh, xin cảm ơn.”

    Chú thích: Hứa tiên sinh từ trong bát tự xem ra được hoàn cảnh gia đình và trong vườn cây ăn quả trồng những chủng loại cây quả, đây là mắt nhìn được ngàn dặm. Tác giả hỏi ông ấy bằng lòng truyền thụ không? Ông ấy cười nói: "Đây là bí quyết trong mệnh lý để sau hẵng nói!” Độc giả thân mến, các bạn cảm thấy công phu mệnh lý của Hứa tiên sinh đáng học hỏi không?

    Bốc Văn bình giải: Tứ trụ này với Hứa tiên sinh, người bạn của tôi, có cùng năm, cùng tháng, cùng ngày, cùng giờ sinh, tuy nhiên bạn của tôi so với tính cách của mệnh chủ này có khác biệt. Có thể từ sự so sánh của mệnh cách 2 người này mở ra được một bước nghiên cứu. Trước tiên khảo sát người bạn tôi phải chăng ứng nghiệm qua những lời giải đoán của Thiên Ngu tiên sinh có liên quan đến mệnh này.

    1. Anh em ruột thịt có tổn thương hoặc chết yểu là chính xác. Hứa tiên sinh có một người anh sau khi sinh chết yểu, nhưng không phải là 12 tuổi, mà là sau khi sinh ra vài tháng.

    2. Khi mệnh chủ còn nhỏ tổ mẫu đã qua đời, chính xác.

    3. Người cha khi lớn lên đẹp trai, văn chương rất khá, chính xác.

    4. Mệnh chủ sau khi tốt nghiệp cao trung từng xa nhà một thời gian, Hứa tiên sinh thì không, đi học cũng không lưu ban.

    5. Những giải đoán về miếu thờ, mương nước nơi Hứa tiên sinh sinh ra cũng không có, nhưng ông ấy nhớ lại trong vườn ở quê nhà chính xác có 3 loại cây trái trở lên.

    Trong 7 điều đoán có 4 điều phù hợp với Hứa tiên sinh, có 3 điểm không khớp; cả 7 điểm đều do việc đoán mở rộng thêm từ bát tự mà vẫn chưa kết hợp với đại vận đã qua. Việc này cho thấy rõ Hứa Thiên Ngu suy đoán toàn bộ chính xác là có chút ngẫu nhiên ngoài lề. Bản thân thuyết mệnh lý học thực sự không có tính xác thực đồng bộ mà có khác biệt nhau.

    Mệnh này Thương Thực vượng, nhật chủ nhược, hỷ dụng Ấn tinh, không dụng Tỷ Kiếp hỏa. Nhưng vì hỏa sinh thổ vượng nên Kỵ thần có lực mạnh. Thủy là Hỷ thần, kim là Nhàn thần, hỏa thổ là kỵ.

    Luận về hôn nhân, mệnh này có Sát quá nhược, Mậu Quý hợp xa, mà Mậu vượng, Quý nhược, lại gặp Kỷ thổ khắc Quý. Quý không có khí thì không thể kết hôn sớm. Đến vận Bính Thìn, Quý thủy có căn nên có thể động đến việc hôn nhân. Năm Quý Hợi, Sát tinh là thái tuể vượng, phục ngâm cung phu, nên đoán bạn trai cũng có thể kết hôn. Nhưng tại sao lại phân ly? Bởi vì Kỷ thổ quá vượng nên chế Quý thủy, tính cách ưa tranh cãi bất hòa nên vì cãi nhau mà biệt ly. Qua đó suy đoán rằng cô ta và bạn trai quan hệ ở năm Nhâm Tuất, ở chung 1 năm thì biệt ly năm Quý Hợi, chứ không phải năm Quý Hợi quan hệ mà năm Giáp Tý chia tay. Bởi vì năm Nhâm Tuất xung khai vận Quan Sát có khố chủ động về nhân duyên, nhất định là có giao hữu. Năm Giáp Tý, Giáp hợp Kỷ, Kỷ không thể khắc Quý nên đoạn tuyện nhau mà không thể đợi đến năm Giáp Tý vì năm này có khả năng kết hôn cao.

    Hứa Thiên Ngu đoán Bính Dần, Đinh Mão có tượng hợp kết hôn. Ta xem cũng chưa hẳn đúng, vì Bính Dần có Dần Hợi hợp tuyệt quan tinh, không thể kết hôn. Năm Đinh Mão mới có khả năng, nhưng cũng cần bản thân cô ta giảm thiểu tính tình của mình, nếu không cũng khó lấy chồng.

    Hứa Thiên Ngu đoán người cha của cô ấy lớn lên đẹp trai, có tài văn chương, dựa theo những gì đó tôi không rõ ràng lắm. Với cấp nhận định của tôi: Tứ trụ này vô Tài tinh, lấy Quý thủy Sát tinh làm cha, phụ tinh lộ rõ, năng lực khá mạnh, tọa chi Thiên Ất Quý nhân lại gặp Thực Thần Văn Xương, chủ cao quý mà có tài văn chương. Nhưng sao của người cha vô nguyên thần, tất cha của mệnh chủ thọ không lâu. Nhưng do là ở ngày giờ, lại có thể đoán cha sẽ không qua đời quá sớm. Cha của Hứa tiên sinh thì qua đời năm Bính Tý thuộc đại vận Nhâm Tuất. Đoán phụ thân của tiểu thư này rất khó qua đại vận Ất Mão [Quý thủy tọa tử địa], thể nhưng đáng tiếc chúng ta không cách nào biết được.
    Phản bổn quy chân

  2. Cảm ơn bởi:


  3. #12
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,012
    Trích dẫn Gửi bởi Thachmoc:
    @Lesoi: Em vẫn cho rằng đây là cuốn sách đáng để tham khảo. Em sẽ đăng tiếp một số chương khác để mọi người cùng nhận xét. Và nếu anh đã nghiệm lý mà thấy có những điểm sách này không phù hợp, anh cứ nêu ra để bọn em học hỏi nhé.
    + Một là: Cứ theo ngũ hành sinh khắc chính lý mà luận Lục thân. Chứ không phải cứ Thương không có luận Thực, T.Tài không có lấy Chính Tài là không đúng chân tông Tử Bình;
    + Hai là: Luận sinh tử không phải cứ Thực Thương là Thọ tinh. Luận sinh tử là lấy Cục mà luận Âm Dương, tức là lấy Nhật can suy diễn Âm dụng thần (tức Nhật can là Thái Dương phải dụng Thái Âm);
    + Ba là: Cách là luận quan hệ xã hội, tức là luận Tài Quan.
    Sau này anh sẽ có bài đăng riêng, chuyên nói về cách luận Âm Dương trong bát tự như thế nào. Anh còn rất nhiều tài liệu mà bấy lâu anh đang rèn giũa, nhưng bởi vì thấy mọi người quá thiên về thân vượng nhược, sợ đăng lên rồi phải giải thích quá mất thời gian cho nên tạm thời chưa đến lúc phải đăng lên những bài này.
    Anh nói lên điều này là đê nói luận Tử Bình là luận Cách và Cục, chứ không phải luận thân vượng nhược là giải quyết hết tất cả vấn đề của vận mệnh một con người. Suy cho cùng Tài Quan chả có liên quan gì đến thân vượng hay thân nhược!
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  4. Cảm ơn bởi:


  5. #13
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Jun 2013
    Bài viết
    71
    Dinhman cũng xen vô một ý kiến . Là tui cũng đọc nhiều về Manh Phái thì thấy mấy thầy mù không nói chi là ngoài lý thuyết căn bản, nhưng rất sâu sắc . Còn mấy lý luận của Đoàn Kiến Nghiệp thì giống như một loại biến dạng, cách tân lý thuyết của người xưa cho nó "độc lạ" ..nhưng không áp dụng được, gây hại não cho người học mệnh . Hèn chi ông Hác Kim Dương nhất quyết không truyền nghề là đúng rồi ...Ông ta đã thấy chân tướng Ông Nghiệp ..Quỳ lạy cũng không truyền ..còn nói " Ngươi là người có học, ta là kẻ vô học. Ta có gì mà dạy ngươi ", đó là chính Ông Nghiệp kể lại ..
    Theo suy nghĩ của tui thì mấy thầy mù xem rất chuẩn là đúng . Kiến thức quá nhiều và bài bản . Giống như một "công nghệ" vậy . Chúng ta không thể có được vì trong chúng ta không ai đi từ mấy "lò" đó ra . Kiểu như ta không có nền công nghiệp xe hơi như người Nhật, người Đức vậy ..không thể lập công ty sản xuất được, không ai chuyển giao công nghệ..cần phải có một quá trình tích lũy công nghệ lâu dài ..Tất nhiên chúng ta biết nguyên lý sản xuất xe ..qua sách vở ..

  6. #14
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Jun 2012
    Bài viết
    79
    Thachmoc hãy đăng chương 1 trước để mọi người hiểu tư tưởng cũng như chủ trương luận mệnh của Tống tiên sinh, sau đó tùy nghi chương nào cũng được; chứ bạn nào mới học tứ trụ mà đọc mấy "chuyên đề" này sẽ không nắm bắt được cái hay trong đó.

  7. Cảm ơn bởi:


  8. #15
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,303
    @Lesoi: Em đồng ý với nhận xét 1 của anh. Còn nội dung sau thì do Tử Bình hiện nay có quá nhiều phương pháp luận, nhà nào cũng cho mình hay mình giỏi cả nên làm rối lòng người đọc, không biết theo ai cho phải. Thôi thì mỗi nhà, mỗi trường phái ta cứ học một tí, tích lũy dần dần mà vạch ra đường hướng cho riêng mình.

    @dnts: Vậy để em đăng lên tiếp. Thật ra em thấy họ Đoàn ở đây cũng chỉ dùng sinh khắc ngũ hành bình thường để giải mệnh. 2 chương đầu của sách chỉ điểm qua về cách luận mệnh và sơ khảo về dụng thần, em không có ý che dấu.
    Phản bổn quy chân

  9. Cảm ơn bởi:


  10. #16
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,303
    Chương 1. Ba bước đoán mệnh

    Luận bát tự gồm 3 bước: (1) Chuẩn bị (nghĩa chính là làm các công việc chuẩn bị lá số mệnh lý như an bát tự, an thần sát, đại vận, lưu niên,... Bước này chủ yếu là KỸ THUẬT, còn hai bước sau mới mang tính NGHỆ THUẬT ĐOÁN MỆNH. (2) trắc tượng. (3) giải đoán

    1) Chuẩn bị lá số tứ trụ: chính là sắp xếp đúng tứ trụ, khởi đại vận, xem cách cục, xác định hỉ dụng thần nhằm xác định thịnh suy của đại vận, lưu niên. [đại vận là vận 10 năm, nhưng thực chất chữ vận là vận hội, tức cơ hội ở những thời điểm nhất định trong cuộc đời - tiếng anh gọi là "Lucky period" ]

    2) Trắc tượng: Tượng là gì ? Tượng cũng chính là Tướng (biểu hiện ra bên ngoài), lấy bát quái để nói thì âm dương của hào là Tượng, như Càn là thiên quái (quẻ Càn chủ trời) ví với tượng cha hoặc người già. Nay mang Trắc tượng này giải thích rõ như sau:

    a) Ngũ hành lục thần khi biến hoá cũng có tượng, như lấy tượng kim để nói thì tương ứng với vật kim loại; ở cơ thể người là xương, răng; về phương diện nghề nghiệp thì ứng với: nghề tài chính, nghề liên quan đến sắt thép, v.v... đều là tượng của hành kim.

    Ở bát tự, ngoài tượng ngũ hành ra còn có sinh khắc. Khi sinh khắc xảy ra thì phát sinh rất nhiều tượng, như kim khắc mộc, mộc khắc thổ sẽ xảy ra tượng gì? Để giải nghĩa mộc khắc thổ, như ở cơ thể thì thổ thuộc dạ dày hoặc da, mộc khắc thổ thì da bị tổn thương, dạ dày bị loét, đây chính là Tướng của ngũ hành, tức trạng thái mộc khắc thổ đã biểu hiện rõ ra. Tử bình mệnh lý lấy nhật can là TA, nhật can tương tác sinh khắc với ngũ hành trong mệnh mà định ra lục thần, cũng chính là điều mà bậc hiền nhân Từ Nhạc Ngô đã gọi là "Thiên tinh". Bởi vậy ngũ hành lục thần ở mệnh lý có vai trò rất quan trọng, nhất định phải hiểu rõ nó.

    Phải hiểu rõ ngũ hành lục thần như thế nào? đó là đem phân loại biến hoá của chúng ra, như kim mộc thủy hỏa thổ đại biểu cho thứ gì? Biến hoá ra sao? đều cần phải làm rõ ra, như một quyển sách đại biểu ở ngũ hành là hành gì? Dụng mộc mà mộc lại chia ra Giáp mộc Ất mộc và Giáp, Ất này phân loại như thế nào? Tất cả đều phải làm rõ. Biến hoá của lục thần hiểu được cũng tương đối khó khăn, như lấy Thương quan để nói thì khi diễn hóa ứng với gì? trên cơ thể người thì các bộ phận như miệng, mũi, tai, mắt và mọi bộ phận nào có dạng lỗ rổng đều thuộc Thực Thương, thậm chí ngay cả chất tiết mà người bài tiết ra cũng là Thực Thương. Con cái, học trò, thú vật trong nhà cũng đều là thực thương cả, điều này tương tự với hào tử tôn của quẻ. Gần đây, có ông Thiên Trí Sinh luận một cách tỉ mỉ tinh tế về ngũ hành lục thần, ông viết vài quyển tinh luận về quẻ dịch rất có giá trị tham khảo. Loại hóa ngũ hành lục thần cần phải chính xác thì mới có thể giải đoán sự việc. Thí dụ như: cấp dưới, người giúp việc cần phải loại hóa như thế nào? định vị cấp dưới thuộc Tài tinh nhưng lại liên quan đến vấn đề tâm thái, tư tưởng: ví như đối xử, xem cấp dưới của mình như con, thì phải dùng Thương Thực để luận; những điều này đều là bí quyết suy ngẫm mà có.

    Đoàn Kiến Nghiệp bình chú: Loại hóa ngũ hành lục thần trong mệnh lý hết sức quan trọng, như kim chủ về hệ hô hấp, xương và răng; mộc chủ về gan mật, tứ chi và lông tóc; thủy chủ về thận, cơ quan sinh dục, máu và mồ hôi; hỏa chủ tim, thần kinh, mạch máu và huyết áp; thổ chủ tỳ vị (dạ dày + lá lách), da thịt và khối u. Đồng thời, thiên can chủ cái bên ngoài, địa chi chủ cái bên trong; nếu như loại hóa tính cách và nghề nghiệp thì kim chủ cương nghị, thuộc (phương tây) Bạch hổ, làm nghề thuộc công (hành chính công), kiểm (kiểm sát, thanh tra), pháp (luật pháp), quân (quân đội) hoặc thầy thuốc, lái xe, v.v...; mộc chủ nhân từ, thuộc Thanh long, làm về thiết kế, nghiên cứu khoa học, quản lý, phục vụ, v.v...; Thủy chủ trí tuệ, thuộc Huyền vũ, làm về kế hoạch, giao dịch, nghề giải trí, v.v...; Hỏa chủ biểu hiện, thuộc Chu tước, làm về biểu diễn, văn học, nghệ thuật, dạy học, v.v...; Thổ chủ thành tín, thuộc Câu trần, làm về kiến trúc, khai khoáng, nông nghiệp,... các loại.

    Cái dùng trong mệnh lý không phải lục thần mà là thập thần, tức sinh ta là Chính Ấn, Thiên Ấn; ta sinh là Thương quan, Thực thần; khắc ta là Chính quan, Thiên quan; ta khắc là Chánh Tài, Thiên Tài; đồng loại với ta là Tỷ kiên, Kiếp tài. Thập thần loại hóa tương đối phức tạp, như ở thân thể, Chính Thiên Ấn có thể loại hóa thành tóc, da, tứ chi, v.v...; Thương quan, Thực thần có thể loại hóa thành miệng, lưỡi, thất khiếu, ở nội tạng là ruột, dạ dày, phổi, v.v... Chính Thiên Quan có thể loại hóa thành ngoại thương, bệnh tật, v.v... Chính Thiên Tài có thể loại hóa thành các thứ bài tiết, dịch tiết cơ thể như đại tiểu tiện, tinh dịch, v.v... ẩm thực, máu và hô hấp cũng là Tài; Tỉ Kiếp thì có thể loại hóa thành tay, chân và tứ chi. Còn về phương diện quan hệ xã hội thì Chính Thiên Ấn là sao cha mẹ và bậc cha chú bề trên, về huyết thống thì thường Chính Ấn gần hơn so với Thiên Ấn. Chính Thiên Tài, đối với nam mệnh là sao chủ thê thiếp, cha, con cái và nô bộc, thông thường Chánh Tài chủ về vợ, Thiên Tài chủ cha hoặc tình nhân. Thương quan, Thực thần là sao con cái, có khi chủ con cháu, thường thì Thương quan chủ con gái, Thực thần chỉ con trai. Tỉ kiên, Kiếp tài là huynh đệ, cũng là bằng hữu, Tỉ Kiên so với Kiếp tài thân cận hơn một chút. Chính Thiên quan đối với nữ mệnh chỉ chồng hoặc bạn trai, nếu trong quan hệ xã hội là lãnh đạo và sự khắc chế, có khi chủ về cha.

    b) Cần làm rõ ý nghĩa của sinh, khắc, chế, hóa, xung, hợp, hội, hình, xuyên (tức hình và hại, như Dần Tị là xuyên) như sinh thì thế nào? khắc như thế nào? thế nào là chế, hóa? thế nào là xung hợp hội hình? Thế nào mới gọi là xung? Thí dụ như Tị Hợi xung, một ở niên chi, một ở nguyệt chi, sau xung thì xảy ra hiện tượng gì? Bên nào thắng, bên nào bại? Hình lại đại biểu gì? Khi luận lục thân và phương diện tình cảm đều không thể xa rời loại xung, hợp, hội, hình, xuyên này được.

    Đoàn Kiến Nghiệp bình chú: Trong mệnh lý tam hợp, lục hợp, hình, xung, khắc, hại đặc biệt quan trọng, bởi vì hạn chế số trang sách nên ở đây không thể trình bày và phân tích rõ ràng hết được, trong tác phẩm Mệnh Lý Chỉ Yếu nhỏ nhoi tôi đã trình bày và phân tích tỉ mỉ vấn đề này.

    c) Cần cân nhắc đến cung vị, như nói về một quẻ dịch thì thượng hào là đầu, hào năm là cổ, hào bốn là ngực, hào ba là bụng, hào hai làm hông, sơ hào là chân, đây là cung vị hào quẻ ứng với thân thể. Và cũng có thể lấy thượng quẻ (ngoại quẻ) ứng với nửa người trên, hạ quẻ (nội quẻ) xem như nửa người dưới.

    Cùng một lý, bát tự cũng có thể xem như một quẻ dịch, như Thiên can thụ khắc thì thương tổn thể hiện mặt ngoài, Địa chi thụ xung thì nội tạng bị tổn hại. Hay đem bát tự so với bộ phận cơ thể thì niên trụ làm đầu, nguyệt trụ làm ngực, nhật trụ làm bụng, thời trụ làm chân; hoặc nói tới phương vị trên cơ thể thì niên chi làm chân trái, thời chi làm chân phải, điều này cũng có thể tham khảo; nếu xét đến cảnh vật chung quanh nhà thì thiên can là phía sau, địa chi là phía trước nhà. Sự cao thấp của lục thần, Quan Sát Ấn tinh thấu ra, đóng phía sau, hoặc Thực Thương Tài tinh đóng bên dưới, ở phía trước, thì là đang suy xét đến cung vị.

    Đoàn Kiến Nghiệp bình chú: Bát tự ứng với bộ phận cơ thể con người thì thời trụ là đầu, nhật trụ làm ngực, nguyệt trụ là bụng, niên trụ làm chân, lại có thể xem thời trụ làm tay, mắt, miệng, tai, cơ quan sinh dục; nhật trụ làm tim, não; nguyệt trụ làm thân mình, xương sống; niên trụ làm đùi, chân. Bởi vì trong bát tự thời trụ là môn hộ (cửa), nhật chính là bản thân, nguyệt đề cương (cột, xà), niên là căn cơ (nền móng), cho nên mới có những loại hóa như vậy. Thiên can ứng làm phía trước, địa chi ứng làm phía sau.

    d) Phép xem vận hạn dùng quẻ hào để xem, hào sơ là tháng giêng, hào hai là tháng 2,... thượng hào (hào sáu) làm tháng 6, rồi quay ngược trở lại lấy hào sơ làm tháng bảy... cứ thế tuần hoàn theo thứ tự.

    Trong bốn trụ mệnh lý, tiên hiền xưa cũng dựa vào nguyên lý của bát quái chia thành các giai đoạn, niên trụ quản vận hạn từ khi ra đời đến năm 16 tuổi, nguyệt trụ quản vận hạn từ 17 đến 32 tuổi, nhật trụ quản vận hạn từ 33 đến 48 tuổi, thời trụ quản vận hạn từ 49 đến 64 tuổi. Trên 64 tuổi lại quay lại từ đầu do niên trụ cai quản. Dựa vào nguyên lý này, khi tính toán lưu nguyệt, có việc mỗi trụ quản ba tháng tuần tự vừa đủ một năm hay không? Thậm chí, từ trước đến nay thuyết lưu nguyệt này còn chưa được chứng thực.

    Đoàn Kiến Nghiệp bình chú: Tôi cho rằng cách thức phân chia đều theo tuổi thọ của con người như thế này cần phải thay đổi, thích hợp thì niên nguyệt trụ quản thời vận trước 35 tuổi, nhật thời trụ quản thời vận sau 35 tuổi. Bất kể người sống bao nhiêu tuổi, cũng không nên quay về tính từ niên trụ bởi vì thời gian là không thể đảo ngược.

    e) Thần sát trong bốc dịch hình thành khi phối lục thú với hào quẻ, nhằm tăng thêm độ chính xác khi đoán quẻ; thì tại mệnh lý nó cũng dùng để bổ túc vào luận đoán, những thần sát này làm ý nghĩa ngũ hành lục thần rõ ràng hơn.

    Thần sát thường dùng khá phổ biến được ông Hà Kiến Trung trình bày trong quyển Bát Tự Tâm Lý Học như Đào Hoa, Quý Nhân, Dương Nhận, Dịch Mã, v.v... khi đem các thần sát này phối cùng ngũ hành lục thần làm tăng khả năng nắm bắt vấn đề.

    Đoàn Kiến Nghiệp bình chú: Ứng dụng Thần sát phải có chọn lọc, trừ số ít thần sát như Dương Nhận, Lục Giáp Không Vong, Thiên Ất quý nhân, Dịch Mã, v.v... ra thì đa số thần sát vô dụng. Xem mệnh dùng ngũ hành sinh khắc làm chủ, dùng Thần sát nhiều sẽ ảnh hưởng đến việc nắm bắt độ chính xác cát hung chính.

    f) Nếu thấy rằng các dụng pháp trên đây còn chưa đầy đủ thì dùng thêm vòng Trường sinh.

    Thông thường sáu điểm ứng dụng trắc tượng bên trên hẳn là đã đủ rồi.
    Phản bổn quy chân

  11. #17
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,303
    3) Giải đoán: Bây giờ trở lại nghiên cứu thảo luận về đa tượng xuất hiện cùng lúc, nếu một bát tự đồng thời gặp xung lại gặp hợp hoặc gặp hình gặp hại, phải đi phân tích như thế nào đây? Điều này liên quan tới cái gọi là đa tượng. Một bát tự cùng với đại vận, lưu niên trên tay, nếu bàn đến mức độ hết sức tỉ mỉ và tinh tế tất phải sử dụng đa tượng, và cũng phụ thuộc vào tư duy suy diễn của bản thân người dự đoán (chương khác sẽ thảo luận). Tỷ như, khi một bát tự cùng tuế vận xuất hiện Tỉ Kiếp đoạt Tài, chúng ta rốt cuộc có thể dự đoán được tương lai bao nhiêu? Nếu như Tài tinh là Hỉ thần, hẳn là vợ hoặc bạn gái gặp tai họa nguy hiểm hoặc tiền bạc bị cướp. Bích Uyên phú nói rằng: "Tài khinh vật kinh kiếp địa, tần kiến thê tai" (Tài nhược chớ đi qua đất Kiếp tài, vì như thế vợ sẽ gặp tai họa dồn dập) chính là lý do này; Tài vừa có thể đại biểu cho cha, (gặp Kiếp) cha cũng bất lợi; ở đây với một bát tự Thân vượng Tài nhược thì mới ứng. Trường hợp Tài tinh là Kị thần, dù cho Tài đa thân nhược thì lại ứng với mua bất động sản, cưới vợ, gả con gái,... nếu là bát tự của người trẻ tuổi thì khả năng sẽ kết hôn. Khi Lục thần phát sinh hiện tượng đều phải phân ra Hỷ hoặc Kị. Người Tài đa thân nhược gặp Tỉ Kiếp đoạt Tài là hiện tượng tốt lành.

    Đoàn Kiến Nghiệp bình chú: Một người Tỉ Kiếp vượng khắc Tài hỉ thần thì bất lợi cho vợ, hoặc bất lợi cho cha, hoặc phá tài thì ắt hẳn phải có tượng biểu hiện, tuy nhiên cần kết hợp cung vị để phán đoán, thường không phải cứ gặp (một trong) ba việc trên đều bất lợi. Nếu thân nhược Tài tinh vượng, hành vận Tỉ Kiếp là lợi cho Tài, nhưng người trẻ tuổi chưa chắc sẽ kết hôn, bởi kết hôn phải xem thêm cung thê, nó có quy luật riêng.

    Tỉ Kiếp đoạt Tài, nếu như là Hỉ thần, làm việc gì cũng trước bại sau thành; nếu là Kị thần thì ngược lại trước thành sau bại. Nhưng lúc này lại phải phân biệt Tỉ Kiếp, Tài tinh ở bản mệnh hay Tuế vận, vấn đề phức tạp này có lẽ để bàn lại sau.

    Khi mệnh vận tuế (kết hợp nhau) hình thành Thực Thương sinh Tài, thì phát sinh hiện tượng gì ? Khi là Hỷ thần sinh cho mệnh thì sẽ gia tăng đầu tư, khiến của cải cuồn cuộn mà đến, tăng cách kiếm tiền, toàn tâm nghĩ ra các phương thức kiếm tiền; còn khi là Kị thần thì cũng sẽ đầu tư nhưng vốn gốc chẳng quay về. Điều này đúng với người trung niên, còn thanh thiếu niên ứng với phương diện phát triển tình cảm và giao du với người khác giới. Sinh là một loại lực lượng thúc đẩy, Thực Thương cũng là một loại tư tưởng, loại tư tưởng này thúc đẩy việc cầu tài, tuy vậy cần phải phân rõ phối hợp giữa người, sự việc, sự vật hay cung vị với hỷ kỵ trong mệnh.

    Gặp hình thái Tài sinh Quan thì phát sinh hiện tượng gì? Khi là Kị thần thì do Tài tinh bị Quan tinh tiết khí, khiến cho tiền kiếm được không đủ chi tiêu; còn là Hỷ thần thì bởi vì Quan tinh có khả năng hộ Tài, cũng chính là Chính quan có thể chế Kiếp hộ Tài tinh, khiến của cải không hao hụt hết.

    Ở nữ mệnh, Tài năng sinh Quan, nữ nhân giỏi khống chế chồng, phu quân bị đoạt quyền, cho nên Thiên Lý Mã phú nói rằng: "Nữ phùng Tài vượng sinh Quan, phu quyền tất đoạt" [1]. Nữ mệnh Tài sinh Quan là Kị thần thì có hay không tại phương diện tình cảm sẽ ngoại tình? Những quy luật này đáng để chúng ta nghiên cứu thảo luận. Còn nam mệnh nếu như Tài đảng Sát, Sát công thân, là kẻ phá gia chi tử (người tiêu tiền như rác), bởi Thất Sát tinh vốn có tính phản nghịch.

    Thông thường Tài sinh Quan là Kị thần đều lấy Ấn tinh hoặc Tỉ Kiếp làm dụng thần. Mệnh thân nhược, nguyên cục Quan Sát nhiều, Tài đến sinh Quan chẳng những sẽ phá Ấn tinh mà còn tăng cường lực Quan Sát khắc nhật can;

    Còn đối với nữ mệnh, làm lỗi bị chồng hay bạn trai đánh liền đi vụng trộm ư? Nữ mệnh chủ yếu lấy Chính quan làm phu tinh, còn nếu mà vì tình yêu mà không đoái hoài tới sự phản đối của phụ mẫu, huynh trưởng, thì hôn nhân đó có xác suất đổ vỡ rất cao, bởi vì Chính quan là một loại Lục thần tuân thủ khuôn phép truyền thống. Nếu lấy Thất Sát làm phu tinh, hôn nhân không trải qua yêu đương mà do cha mẹ định đâu con ngồi đó thì hôn nhân sau này do tính tình không hòa hợp được với chồng mà hối tiếc suốt đời.

    Bên trên chỉ là sinh khắc của hai lục thần (lưỡng trọng sinh khắc), còn một loại nữa là tam trọng sinh khắc (sinh khắc cùng lúc của ba lục thần). Nếu Thực Thương sinh Tài, Tài lại phá Ấn, sinh khắc của ba lục thần này cần phối xem với vị trí của nó, một số trường hợp xuất hiện tham sinh vong khắc. Sự sinh khắc của ngũ hành sinh khắc vốn có thể xem được rất nhiều thứ, nếu gia thêm xung hợp hội hình xuyên [2] của lục thần thì biến hóa càng nhiều.


    [1]Câu này trong Bích Uyên Phú của UHTB, Tiệp kính Thiên Lý Mã trích lại.
    [2]“xuyên” (tức vừa tương hại, vừa ám xung), tức các nhân nguyên tàng can xung nhau ; địa chi ở thế tương hại nhau…
    Phản bổn quy chân

  12. Cảm ơn bởi:


  13. #18
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,303
    Ví dụ: Nữ mệnh:
    Bính Tân Canh Kỷ
    o o o o

    Mệnh tạo này sẽ có hiện tượng gì? Bính hỏa Chính quan phu tinh và Tân kim Kiếp tài ngũ hợp, biểu thị trong đời quan hệ với bạn trai hoặc với chồng thường bị lấn lướt. Luận pháp này không sai, nhưng vẫn phải cân nhắc khí thế nhật chủ và Tân kim Kiếp tài cái nào mạnh hơn.

    Bính Tân Canh Bính
    o o o o

    Hai Bính hỏa là song Sát thấu can, một hợp còn một khắc, hợp Sát lưu Sát, như vậy Thất Sát tinh phải chăng khá thuần? Hoặc là sẽ có hôn nhân lần thứ hai? Còn Bính Tân hợp, phải chăng chỉ anh em của cô xem chừng có biến cố, đưa cho người khác nuôi?

    Đinh Tân Canh Bính
    Mùi Mão o Tuất

    Nếu cái này gọi là hợp Sát lưu Quan, nhưng Đinh hỏa Chính quan khắc Kiếp tài sát bên, nếu như nói Tân kim tự tọa tuyệt địa, hẳn anh chị em có tổn thất, nếu địa chi có Dậu xung Mão thì sự tổn thất chắc chắn hơn. (Thực tế không thể xuất hiện kết cấu này vì nguyệt lệnh Tân chỉ có thể phối với Hợi hoặc Mão).

    Chúng ta trở lại bàn về xung hợp của địa chi.

    Nữ mệnh:
    Kỷ Bính Bính Quý
    Hợi Dần Thân Tị

    Nữ mệnh này sẽ xuất hiện hiện tượng gì? Nhâm thủy Thất Sát tàng trong Hợi do xuyên nhau với Thân cung phu, mà Hợi lại bị Dần hợp, cho nên cô này mỗi khi có bạn trai đều bị người khác cướp mất. Nếu là nam mệnh, do Tài tinh duy nhất tại thê cung và niên chi Hợi tương xuyên, nguyệt chi Dần tương xung, thì phải kết hôn muộn mới khá tốt. Hơn nữa, Dần Hợi hợp thành mộc Ấn tinh, chính là cung tổ tiên hợp với cung phụ mẫu thành Ấn tinh, trong nhà ắt mẫu thân nắm quyền. Ấn tinh trong dần tương xung Tài tinh trong thân, có dấu hiệu song thân bất hòa. Mà mỗi lần cãi vã đều là mẫu thân nóng máu còn phụ thân nhẫn nhịn. Mậu thổ Thực thần trong Dần bị Thân xung, trong khi đi học gặp trở ngại phải gián đoạn hoặc chuyển trường. Ở trên chính là cách xem Lục thần.

    Phép luận ngũ hành thì như thế nào? Như lấy cơ thể để nói thì Giáp mộc trong dần đại biểu cho gan mật, bị Canh kim trong thân khắc, luận gan mật có vấn đề có đúng không? Nếu chi giờ cải thành giờ Dậu, hình thành kim mộc giao chiến, kim thắng mộc bại, khả năng mắc bệnh gan mật rất cao.

    Lại lấy chi giờ Tị mà luận, toàn cục Dần Thân Tị Hợi tứ sinh, tứ mạnh tề xung, cấu trúc địa chi bát tự này giống như nhà bị chấn động lung lay. Bởi vậy mà người này công việc bất ổn, rất bôn ba, do bát tự dù xem dưới góc độ nào cũng đều là Dịch Mã. Nếu là nữ mệnh thì người này nhất định rất hoạt bát.

    Bàn đến con cái, Dần Thân Tị tam hình gặp xung, Tị Hợi xung, cung tử tức bị xung, bất kể là nam hay nữ mệnh thì con cái đều bất lợi. Dần Thân xung, cung phụ mẫu cũng bị thương tổn, vả lại Tị Thân tuy hợp nhưng cũng là hình; bản khí của Tị là Bính hỏa khắc bản khí của Thân là Canh kim, giống như hỏa khắc kim, Dần Thân xung kim khắc mộc, bởi vậy dù là mệnh nam hay nữ tình cảm vợ chồng không cách nào hòa hợp.

    Niên can là Kỷ thổ, nguyệt can là Bính hỏa thì sẽ xuất hiện dấu hiệu gì? Lấy nữ mệnh mà nói, Thất Sát là phu tinh ở nữ mệnh vốn có tính chất phản bội; còn thời trụ Quý Tị thì có gặp Quan sát hỗn tạp? Không phải, bởi Quý thủy tọa Tị, Chính quan vô lực lại sinh vào tháng Dần, đây là một bát tự không cường cũng không nhược. Thế nhưng Dần Thân Tị Hợi tề xung, đối với nữ mệnh mà nói, chọn chồng kết hôn nên nhiều tuổi hoặc lấy chồng xa, hoặc làm vợ bé, bằng không tình cảm vợ chồng dễ rạn nứt. Thiên can Kỷ thổ Thương quan khắc thời can Quý thủy Chính quan, tâm tính bất thường, bởi vì bản thân có một Chính quan biểu thị khuôn phép, lại có một Thương quan phản kháng ngăn chặn thành ra sinh mâu thuẫn.

    Trên đây là phân giải về phương diện Lục thần, còn lấy ngũ hành để nói thì Bính hỏa sinh Kỷ thổ sẽ phát sinh hiện tượng gì? Sẽ có cảnh tai ương máu me. Còn Dần Hợi hợp, Hợi thủy đem Dần mộc hợp lại và sinh mộc lại sẽ có dấu hiệu gì? Có một điểm có thể khẳng định, ngay cả khi Thực thần gặp xung, việc học không ổn định, học hành có phần giống như câu nói trong tiếng Đài "Vô thời nhàn" (Không lúc nào rảnh).
    Phản bổn quy chân

  14. #19
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,303
    Chương 2. Nghiên cứu và thảo luận hỷ dụng thần

    I. Định nghĩa Dụng thần

    Định nghĩa dụng thần là gì? Chính là một thứ cần thiết tạo cân bằng mệnh cục. Có một vài bát tự rất trung hoà, những người có bát tự như vậy cuộc đời họ bình an không sóng gió, không có gì lên xuống. Còn đại bộ phận bát tự đều không cách nào ứng hợp với đạo trung dung (tức không thiên lệch – không thái quá, không bất cập), mỗi mệnh tạo đều có kẻ hở hoặc khiếm khuyết, cho nên Ngũ Ngôn Độc Bộ nói rằng: "Hữu bệnh phương vi quý, vô thương bất thị kỳ, cách trung như khứ bệnh, tài lộc lưỡng tương tùy" (có bệnh mới là quý, không tổn thương không phải kỳ cách, trong cách mà khử được bệnh, tài lộc đầy đủ cả". Thuốc mà chữa được bệnh, đó chính là Dụng thần.

    Vì hỷ dụng thần, trong quá trình học luận mệnh, rất nhiều người hao phí thời gian khổ tâm nghiên cứu, nhưng đều không thể đột phá. Thực ra, hỷ dụng thần là đầu mối trọng yếu của toàn bộ bát tự, cũng là tinh thần của toàn bộ mệnh cục, có thể nói, dụng thần là cái bát tự cần nhất.

    Từ xưa tới nay bàn về mệnh, nữ mệnh quan trọng phu tinh và tử tinh, nam mệnh trọng Tài Quan (sự nghiệp, tài vận), đại vận đi có thể trợ giúp được cho sự nghiệp, chức vị hay không, thì mấu chốt ở chổ Tài Quan là hỷ dụng thần hay cừu thần. Do vậy mới nói bát tự cần nó nhất, vui mừng nhất nó là hỷ dụng thần.

    II. Tác dụng của Dụng thần

    Tác dụng của Dụng thần là gì? Ở trên đã nói, Dụng thần là điểm cân bằng của bát tự, (nó) theo đại vận tác động vào mệnh thì danh lợi có thể đạt đỉnh điểm. Nhưng không hề bảo đảm bình an vô sự, thường thường một số người đang ở vận trình hỷ dụng thần vẫn cứ gặp tai họa bất ngờ; chẳng qua khía cạnh danh lợi khá thành công thôi.

    Trong bát tự có năm thần gồm có cừu thần, kỵ thần, hỷ thần, dụng thần và nhàn thần, còn trong một bát tự rốt cuộc có mấy hỷ dụng thần? Như bát tự có nhật nguyên thân nhược, vậy thích dùng Ấn tinh sinh phù, bát tự Tài đa thân nhược hay dùng Tỉ Kiếp, thân suy Quan Sát cường thường dùng Ấn tinh. Mà Ấn tinh và Tỉ Kiếp là sinh cho nhau, cho nên một số mệnh tạo Hỉ thần và Dụng thần là tương sinh.

    Có một số hỷ dụng thần trong một bát tự không phải tương sinh mà là tương khắc, như hỷ thủy dụng hỏa, hỷ mộc dụng thổ. Loại này dường như không phát sinh ở bát tự thân nhược dụng Ấn Tỉ, mà phần lớn chỉ xảy ra tại bát tự thân vượng. Thân vượng dụng Tài tinh để đạo khí (đoạt khí), dụng Quan sát để khắc, dụng Thực Thương để tiết, ba loại này như là kim thủy mộc, trong năm hành có thể dùng được ba hành, đây chẳng phải ông trời quá ưu đãi với loại bát tự này ư? Kỳ thực không tốt như vậy, đây là một nhận định sai lầm. Như bát tự Thân Sát lưỡng đình - thân vượng Quan Sát rất nhiều - có thể dụng chút Ấn tinh, thân vượng thiên can lại có Ấn tinh lộ ra, dụng Quan sát há chẳng phải Quan sát lại sinh Ấn, Ấn sinh thân, thân càng vượng thêm, đó chẳng phải số xấu ư?

    Tác dụng của Dụng thần đôi khi khiến ta không biết xử trí như thế nào. Ngay cả đi đến vận trình hỷ dụng thần, cũng không thăng quan phát tài mà còn hao tổn mệt mỏi, tinh thần sa sút, vậy hỷ dụng thần chúng ta chọn có khác với hỷ dụng thần chân chính hay không? Nghĩ tới đây chả trách có người nghiên cứu đến bạc đầu vẫn không có đột phá. Hỷ dụng thần là thuộc về một loại "tự do tâm chứng", tác dụng thực sự chỉ là khiến cho ngũ hành luân chuyển thông suốt mà thôi.

    III. Chọn hỷ dụng thần như thế nào

    Hỷ dụng thần chọn như thế nào? Hỷ dụng thần ở bát tự có thể chia làm hai loại. Một là "lý luận dụng thần", gọi "lý luận dụng thần" là dụng thần mà bát tự cần trên lý thuyết nhưng trong nguyên cục bát tự không có, mà phải đợi tới đại vận mới có thể phát phú phát quý, chẳng qua nó chỉ là đàm hoa nhất hiện (hiển hách nhất thời). Một loại dụng thần khác là "thực tế dụng thần", chính là loại dụng thần mà bát tự cần tại nguyên cục cũng có, ở đại vận cái quý của nó tương đối lâu dài.

    Trong phú Lạc Lục Tử Tiêu Tức nói rằng: "Quan hồ manh triệu, sát dĩ kỳ nguyên, căn tại miêu tiên, thực tòng hoa hậu" (xem ở cái mầm mống, xét rõ nguồn gốc, trước tiên phải coi rễ mầm, sau sẽ xét đến quả hoa). Câu này chỉ ra rằng: muốn hiểu vận mệnh cát hung, trước tiên cần xem (cách) cục, mệnh tức là gốc, gốc vốn quý thì hành vận đến đất quý thì sẽ phát quý hiển, gốc vốn mang mầm tai họa thì đi đến vận xấu sẽ gặp tai ương; cái quý tiện cát hung đều mang ý nghĩa từ mầm mống cả.

    Chú thích: người Trung Quốc đề cao “trung dung chi đạo”, tức đạo Trung Dung, nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa, không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân tử, để cuối cùng thành thánh nhân. Sách Trung Dung do Tử Tư viết, một trong tứ thư kinh điển của văn học và quan niệm phong kiến TQ.

    (*) "tự do tâm chứng": chỉ có bản thân chứng nghiệm được, dựa trên kiến thức và kinh nghiệm thực tế bản thân mà hình thành sự tin tưởng.
    Phản bổn quy chân

  15. Cảm ơn bởi:


 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •