Chào mừng đến với Tử Bình diệu dụng.
Trang 5 của 5 Đầu tiênĐầu tiên ... 345
Kết quả 41 đến 46 của 46
  1. #41
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,630
    Chương 22: Người tài khiêm tốn luận theo cung bàn đẩu số


    Mệnh nam:

    Kiếp Tỷ Nhật Sát
    Bính Đinh Đinh Quý
    Thân Dậu Mùi Mão


    1 tuổi vào vận:
    Thương Thực Tài Tài
    Mậu Kỷ Canh Tân
    Tuất Hợi Tý Sửu


    Đây là một phi hành viên không quân, năm Kỷ Tỵ 34 tuổi, vào tháng Kỷ Tỵ gặp tai nạn phi cơ. Chúng ta xem Tống tiên sinh giải thích tứ trụ này:
    Từ trong mệnh chúng ta có thể thấy được trụ tháng Đinh Dậu và trụ giờ Quý Mão phạm thiên khắc địa xung, mà còn là Trường Sinh gặp xung, vì thế tại vận hạn thuộc trụ Đinh Dậu có một đại nạn. Đặc biệt ở thời gian 16, 17 tuổi hoặc 33, 34 tuổi lúc giao thoát vận.

    Năm 31 tuổi bắt đầu vận Tân Sửu, chẳng những Sửu là Mộ khố của Đinh mà còn thiên khắc địa xung trụ ngày Đinh Mùi, buộc Sửu Mộ khố hoàn toàn mở tung. Với tình huống này, anh ta trong 10 năm hành vận Tân Sửu từ 31 tuổi đến 40 tuổi, bản thân sẽ có sự việc phát sinh liên quan đến tính mạng. Đây là tượng của nguyên cục bát tự, mà ở năm Kỷ Tỵ, tháng Tị Dậu Sửu có khí lệnh vượng nhất. Tam hợp Tị Dậu Sửu đây chính là phùng mộ kị yêu, tức là mộ khố kị gặp hợp trong mệnh. Trong khoa Đẩu Số điều cần chú ý là cung Tật Ách cùng cung Phụ Mẫu đối xung, trong bát tự thì nhận xét lục thần Ấn tinh. Địa chi của bát tự này gặp kim mộc giao chiến, bản mệnh là kim khắc mộc, tức Tài phá Ấn. Dưới sự dẫn động của đại vận Tân Sửu và lưu niên Kỷ Tị, Tị Dậu Sửu hợp thành kim cục, nên toàn bộ Ấn tinh của bản mệnh bị khắc sạch. Trong lá số của khoa Đẩu số, cung Tật ách với cung Phụ mẫu bị khắc mất, tức là cung Tật ách bị xung, giống như Dụng thần trong bát tự bị xung sẽ có hiện tượng không tốt phát sinh.

    Bốc Văn bình giải: Nguyên nhân dẫn đến chết của tứ trụ này là bởi vì Tài tinh phá Ấn, mà không phải vì „phùng mộ kị yêu“. Sự giải thích của Tống tiên sinh ở phần sau là chính xác hơn. Tứ trụ này lấy Mão Ấn làm thọ nguyên tinh của mệnh chủ, gặp Mão Dậu xung là có tượng tổn thọ. Đến năm Kỷ Tỵ tam hợp kim cục khắc thọ, huống chi Sửu xung Mùi làm cho mộc trong Mùi cũng bị khắc tận, đấy là ứng kỳ tử vong. Bởi vì Mão mộc có tượng là xe, Mão gặp Không vong, là xe ở không trung, cho nên ứng với phi cơ bị lỡ sự mà chết. Thực tế những ví dụ về Dậu xung Mão mà tử vong do tai nạn xe cộ như vậy là rất nhiều:

    Ví dụ mệnh ngôi sao ca nhạc Trương Vũ Sinh:

    Mệnh nam:
    Kiếp Ấn Nhật Sát
    Bính Giáp Đinh Quý
    Ngọ Ngọ Dậu Mão

    Hành vận Đinh Dậu, năm Đinh Sửu, điều khiển máy bay bị lỡ sự mà chết. Dậu xung Mão ứng với phi cơ, Tài phá Ấn, phi cơ bị phá hủy mà mạng vong.

    Thêm một mệnh nam khác:

    Ấn Sát Nhật Ấn
    Giáp Quý Đinh Giáp
    Dần Dậu Mão Thìn

    Tứ trụ này hành vận Ất Hợi, lưu niên Ất Hợi bị tai nạn xe cộ tử vong. Cũng là có Mão Dậu xung, chỉ là do thọ nguyên tinh mệnh này là Tài, đại vận lưu niên hợp Ấn tinh vượng, xung phá Tài tinh mà chết.

    Mệnh người vợ phi công sinh năm Nhâm Dần, tháng 3, ngày 8, giờ Mão như sau:

    Thực Tài Nhật Ấn
    Nhâm Giáp Canh Kỷ
    Dần Thìn Thìn Mão


    3 tuổi vào vận:
    Thương Thực Kiếp Tỷ
    Quý Nhâm Tân Canh
    Mão Dần Sửu Tý

    Tống tiên sinh phân tích: Cô này có bát tự rất đặc biệt, chẳng những gặp cung phu [địa chi trụ ngày] phục ngâm, mà sao đại diện chồng là Bính hỏa trong chi năm Dần bị Dần Mão Thìn hội thành đông phương mộc. Bính hỏa Thất Sát mất đi hiệu lực, còn bị Nhâm thủy cái đầu khắc, nghĩa là Bính hỏa tàng trong chi bị thiên can Nhâm thủy khắc cùng trụ, cho nên nguyên cục mệnh này có dấu hiệu khắc chồng và 2 lần hôn nhân.

    Năm 23 tuổi, đại vận Tân Sửu cùng trụ tháng Giáp Thìn tương hình, cũng có nghĩa là đại vận Tân Sửu hình cung phu 2 lần. Năm 28 tuổi Kỷ Tỵ, trong Tỵ tàng Bính hỏa cùng phu tinh Bính hỏa trong chi năm tương hình, tức là Dần Tỵ hình và Sửu Thìn hình. Cung và tinh sao đều tương hình mà ở trong nguyên mệnh đã có tượng hình chồng, chứng tỏ có dấu hiệu năm nay chồng của cô ta xảy ra chuyện vợ chồng gặp cảnh chia lìa. Dựa vào sách cổ nói rằng nữ mệnh gặp Thương Quan là khắc chồng, cung chồng chi Thìn có ẩn tàng Thương Quan, mà trước mắt hành vận Sửu là mộ khố của Chính Quan Đinh hỏa, tượng ý là khống chế người chồng.

    Cho nên từ điểm này mà xem số mệnh vợ chồng, thì chồng của cô ta bị lỡ sự mà gặp dữ nhiều lành ít.

    Chúng ta khi nói đến khoa Đẩu số thì có thể dựa vào cung bàn mà ứng dụng, còn bát tự có thể dựa vào trụ gọi là cung để luận mệnh không? Trả lời là có thể, vậy bát tự có thể dựa vào cung bàn luận như thế nào? Đầu tiên chúng ta phải hiểu rõ, trụ năm là cung tổ tiên ông bà, trụ tháng là cung phụ mẫu, trụ ngày là cung phu thê, trụ giờ là cung tử tức.

    Thời xưa có một số người có 3 vợ 4 nàng hầu; xét cung phu thê của người đó có vấn đề gì phát sinh mà nhiều vợ như vậy? Người vợ nào sẽ có trở ngại, hoặc xem cung tử tức có vấn đề gì thì xem thế nào? Những điều này có khi chúng ta luận mệnh cảm thấy nan giải mà không có cách nào trả lời được. Lúc này thì phải dùng đến các cung mà luận, vì có thể từ các cung của bát tự mà diễn giải ra được vấn đề.

    Bốc Văn giải bình: Tống tiên sinh không thể giải thích vững vàng được quan điểm vì sao chồng chết trong tứ trụ này. Đầu tiên, Dần tàng phu tinh Bính hỏa; hỏa nhập đất Trường Sinh. Nhâm thủy cái đầu rất nhược, vì Dần có tác dụng nạp thủy, Nhâm thủy không có cách nào khắc Bính hỏa trong Dần. Hơn nữa chồng chết vào vận Tân Sửu, năm Kỷ Tỵ, Nhâm thủy ở năm này không những không vượng, trái lại đã bị khắc chế, làm sao mà có thể khắc chồng chứ?

    Tống tiên sinh giảng vận Tân Sửu cùng trụ tháng Giáp Thìn tương hình là không có căn cứ. Cho dù trong sách luận Sửu và Thìn là tượng hình hay không, Tân cùng Giáp cũng không tương hình. Hơn nữa xem cung chồng thì có thể xét địa chi ngày Thìn thổ, mà không nghe nói lấy trụ tháng xem là cung chồng. Sửu là khố của Đinh hỏa, nói như vậy thì chưa hẳn bảo vệ được ý kiến của mình, huống chi trong mệnh và trong vận đều không có Quan tinh Đinh hỏa, làm sao có thể nhập khố? Đạo lý là Quý thủy trong Thìn ở khố không xuất ra, bản thân rất nhược, càng không thể khắc Quan tinh. Cho nên giải thích của Tống tiên sinh hoàn toàn không thể chứng minh cho quan điểm của mình.

    Mệnh này luận vì sao chồng chết không hoàn toàn rõ ràng. Tôi phân tích dưới đây hẳn là củng cố được lý do mình đưa ra:

    Tứ trụ này mộc vượng thổ suy yếu, mộc nhiều hỏa nhược, phu tinh phu cung đều chịu khắc chế, tượng của chồng trong mệnh vì thế nguyên thủy là nhược. Hành vận Tân Sửu, Dần Sửu ám hợp, trong đó có Giáp Kỷ ám hợp, Bính Tân hợp, sao chồng là Bính hỏa có Giáp mộc bảo vệ, nhưng bởi vì ám hợp mà mất đi nguyên tính. Nhược mà gặp hợp tức là có tượng tử vong, cho nên trong vận Tân Sửu chồng chết. Vấn đề tử vong thông thường ẩn nấp ở trong địa chi bị khắc, đa phần ứng ở năm suy mà thấu can. Nếu trong đại vận này có lưu niên Bính Tý, Bính Thân hoặc Bính Thìn tức là có thể đoán năm đó chồng chết. Đại vận này lại gặp năm Bính Dần là vượng mà thấu can, cho nên không ứng ở năm Bính Dần chồng chết, mà ứng vào năm Kỷ Tỵ chồng chết, đó là do Tỵ hỏa Quan tinh xuất hiện, gặp sự cố trong vận Sửu thổ ám hợp; Dần Tị tương hình không có liên quan.
    Phản bổn quy chân

  2. Cảm ơn bởi:


  3. #42
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,630
    Chương 23: Bát tự có thể dùng để bốc quẻ không?


    Có một lần trong tờ thời báo tuần san xem được một bài nói về vận mệnh có liên quan đến thiên văn của Hà Kiện Trung tiên sinh viết, nội dung tinh thâm. Ông ấy nói từ khi tất cả các sự kiện trong vũ trụ mới sinh, các sự kiện này đều phải có các mối quan hệ hình thái cát hung phát triển. Tương tự là trong một tích tắc khi chúng ta sinh ra đã có quan hệ mệnh lý, tức đã được định trước quy luật cuộc đời là con người ta khi sinh ra đều có cát hung họa phúc quý tiện như nhau. Điều này có liên quan với việc chọn ngày, song lại dựa vào cát thần hung sát mà vứt bỏ những gì mà người xưa để lại, chỉ lấy sự sinh khắc của ngũ hành để dự đoán cát hung thành bại sự việc phát sinh trong tương lai. Bây giờ thì chúng ta xem ví dụ minh họa của Hà tiên sinh đã đề cập để nghiên cứu.

    Vào ngày Quý Sửu tháng 11 năm Canh Thân, có một phụ nữ qua người giới thiệu gặp gỡ một người đàn ông. Hai người nói chuyện với nhau có phần vui vẻ. Sau sự việc đó người phụ nữ đó hỏi Hà tiên Sinh: Hôn nhân của hai người thế nào? Hà tiên sinh căn cứ vào thời gian cuộc hẹn và trả lời cô ta: Ban đầu có một chút tình cảm lãng mạn, nhưng cuối cùng người nam không còn tình ý gì với người nữ này nữa. Người nữ lại hy vọng lập gia đình, mà phía nam thì không bao lâu sau lại có một cô bạn gái khác". Hà tiên sinh giải thích trong lý học là: "Nhật can Quý thủy, cung tinh thai nhật can tọa Tỷ Kiên, cục vô Tài tinh". Bát tự của cuộc hẹn hò có điều trái ngược.

    Ấn Quan Nhật Ấn
    Canh Mậu Quý Canh
    Thân Tý Sửu Thân

    Đây là một tứ trụ có năm tháng ngày giờ thân thiết, việc chọn ngày cát tránh ngày hung so với truyền thống không giống nhau. Nhưng chọn ngày của pháp truyền thống lại không có cách nào dự đoán được sự thay đổi của tương lai. "Ban đầu có một chút tình cảm lãng mạn", là căn cứ ngày can Quý thủy làm Thương Quan, mà tình cảm của Thương Quan thì tương đối lãng mạn."

    Xét câu “Không bao lâu sau thì nam đối với nữ không còn tình ý gì nữa, người nữ thì hi vọng lập gia đình, nhưng chẳng bao lâu người nam lại có một cô bạn gái khác", đây là phía nữ đến hỏi, nên quan điểm không đồng nhất. Dùng nhật can Quý thủy xác định vị trí, Quý thủy ở tháng Tý là đắc lệnh, lại có Ấn tinh Canh kim trụ năm và trụ giờ thiên thấu đại tàng đến sinh phù, làm cho Quý thủy lan tràn, kim thủy chủ phần nhiều tình cảm tương đối lãng mạn. Hỷ Dụng thần của tứ trụ này là hỏa thổ, nhưng chỉ có một Mậu thổ ở can tháng. Mậu thổ là Chính Quan của nhật can Quý thủy, Chính Quan đại biểu cho bên nam, Mậu thổ là Hỷ dụng thần, đương nhiên cũng sẽ khiến cho việc lấy vợ thủy là việc rất vui mừng và cần thiết, cho nên từ điểm này mà xét.

    Nhà gái rất muốn sớm thành hôn. Điều này bát tự cầu có hỏa, nhưng hỏa không hiện diện. Nhật can Quý thủy sinh ở tháng 11 giống như thủy nước đá, khí thế của toàn cục rất hàn lạnh, Quý thủy không phát huy nổi tác dụng. Trụ tháng Mậu Tý lại là thiên địa uyên ương hợp. Đây là nguyên nhân chủ yếu mà bên nam thay đổi tình cảm. Chi tháng Tý thủy là Tỷ Kiên, đại biểu đều là người phụ nữ. Mà Tý thủy này muốn hợp với Thân chi năm và chi giờ, cũng muốn hợp với nhật chi Sửu, giống như rất nhiều người đang theo đuổi người phụ nữ Tý thủy này.

    Tuy nhiên trong tim của người nữ Quý thủy nhật can này rất thích bên nam, đáng tiếc bởi vì cách cục khuyết hỏa nên thiếu chủ động. Nếu như nói trụ giờ đổi thành Mậu Ngọ, thì trở thành tranh hợp, thành ra 2 nam theo đuổi 1 người nữ này. Đây là thời gian lần đầu tiên người nam đi hẹn với một người phụ nữ. Vậy hôn duyên của họ sẽ ra sao? Chúng ta xem dưới đây:

    Tài Tài Nhật Quan
    Bính Bính Nhâm Kỷ
    Dần Thân Dần Dậu

    Hình dáng của cô gái này cao và rất đẹp mà lại hướng ngoại, còn chàng trai là một người trung hậu. Sau cuộc hẹn, cô gái tương đối chủ động, chàng trai ở vào thế bị động, sau khi gặp gỡ mấy lần thì chẳng còn quan tâm đến nhau nữa, mãi đến hiện nay mới thôi, hai bên nam nữ đều còn chưa kết hôn. Sau khi gia đình bên gái căn cứ vào mấy lần gặp nhau, phía nhà cô gái rất muốn gả cho gia đình chàng trai, nhưng phía chàng trai không có ý muốn thành hôn. Sau khi cô gái bị từ chối, cô ấy đã giao thiệp với vài người bạn trai khác.

    Bây giờ chúng ta dùng quan điểm thần sát, ngũ hành và lục thần để tham khảo.

    Sự đặc trưng của bát tự này:

    (1) Toàn cục không có Chánh Tài (thê tinh), chỉ có Thiên Tài (trừ nữ tính của thê tử ra), hai trụ năm tháng là đoạn thời gian trước của cuộc đời.

    (2) Nhật can Nhâm thủy tọa Trường sinh tại Thân, Học Đường cũng tại Thân, mà Bính hỏa là đại biểu cho bên nữ tọa ở trên Trường sinh của Học đường. Người phụ nữ này không những đẹp mà còn trong quá trình học đại học lực học rất cao. Bính hỏa đóng ở Dần, Dần là Dịch mã, lại là đất của Bính hỏa trường sinh, Bính hỏa như hỏa của mặt trời sẽ phát ra ánh sáng rực rỡ, cho nên là người nhiệt tình như hỏa .

    (3) Nhâm thủy này với Dậu chi giờ là Mộc dục, lại là Đào hoa của nhật chi Thìn, do vậy người nam này sinh ra cao và rất đẹp trai.

    (4) Dần Thân xung, Thân Thìn củng hợp, Thìn Dậu hợp, đây là 1 xung mà 2 hợp, dẫn động sự cố gắng của nam đối với tình cảm của nữ mà trong lòng do dự không biết phải làm thế nào cho phải.

    (5) Thực Thương là sợi dây tình cảm của người đàn ông dành cho phụ nữ, Tài tinh cũng là sợi dây tình cảm của người phụ nữ dành cho người đàn ông. Chi năm Dần vốn là Thực Thần bị xung phá, từ sao Thực Thần này có thể xem ra tình cảm của người đàn ông rất là kín đáo hàm xúc, cho nên chàng trai này cho rằng điều kiện của cô gái này ưu việt hơn hẳn nên có cảm giác không dám bám vào kẻ quyền quí.

    (6) Thất Sát là quan tinh không tọa đúng cung vị, rất không may Thìn Dậu hợp dẫn đến Chính Quan ở can giờ cũng muốn tiến đến. Làm cho phía cô gái rất muốn được có hôn lễ với chàng trai. Đáng tiếc cho cuộc ước hẹn này là bát tự không có Chánh Tài. Cho nên sinh ra hiện tượng nam không dám kết hôn với nữ.

    Bình chú: "Nhất lý thông, vạn lý triệt" 1. Bát tự có thể dùng để bốc quẻ, mà còn rất chuẩn và rất thực dụng nữa. Vấn đề là áp dụng quẻ như thế nào và dự đoán ra sao.

    ----------------------------------------------
    "Nhất lý thông, vạn lý triệt" 1: Tinh thông đạo lý rõ ràng thì giải đoán được tất cả các sự việc
    Phản bổn quy chân

  4. Cảm ơn bởi:


  5. #43
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,630
    Chương 24: Đệ nhất cao thủ Hồ Lô Đôn


    Đây là cuộc bàn luận về nữ mệnh đào hoa giữa Tống tiên sinh và sư huynh của ông là Trịnh tiên sinh.
    Khôn tạo:

    Thực Tài nhật Tài
    Ất Đinh Quý Bính
    Tị Sửu Mùi Thìn


    4 tuổi hành vận:
    Quan Sát Ấn Kiêu Kiếp
    Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm
    Dần Mão Thìn Tị Ngọ

    Tống tiên sinh phân tích:

    Bé gái tại năm 16 tuổi lưu niên Kỷ Mùi thi đậu hộ lý chuyên nghiệp, cùng năm này mất trinh. Nói chuyện tình yêu, mất trinh hay không thì nam xem Tài tinh, nữ xem Quan Sát, ngoài ra còn có quan hệ đến Thực Thương, vì Thực Thương đại biểu cho bộ phận sinh dục, dũng khí và lãng mạn. Mệnh này sinh sau tiết Đại hàn, Kỷ thổ lúc này đắc lệnh, cũng chính là Thất Sát tinh đắc lệnh, nhật can nhược, lúc này Thất Sát trở thành Kị thần, tỷ suất mất trinh trước hôn nhân khá cao. Nữ mệnh này đã thuộc hình thái này, ở đại vận Kỷ Mão, lưu niên Kỷ Mùi, chẳng những Thất Sát tinh đắc căn, Sửu Mùi xung, Mão Mùi hợp phu cung, Thất Sát lại tới khắc Thân, cho nên năm này mất trinh là tất nhiên.

    Năm 19 tuổi, lưu niên Nhâm Tuất, Nhâm và Đinh hỏa hợp hóa, thiên Kế Thiện nói rằng: "Đinh ngộ Nhâm nhi thái quá, tất phạm dâm ngoa chi loạn". Địa chi lưu niên Tuất ở đại vận Mão là Đào Hoa, Mão Tuất hợp là Đào Hoa hợp ở tuế vận, cho nên năm này là năm mà cô có cuộc sống riêng rất buông thả, ăn ở với nhiều người.

    Năm 20 tuổi, năm Quý Hợi, nguyên cục và đại vận hợp thành Hợi Mão Mùi là Thực Thương cục, đây gọi là Thực thần nhập mộ tức là "tử nan đăng đệ" (con khó đăng khoa), biểu thị phát sinh sự việc liên quan đến con cái, hơn nữa, bản mệnh tử tức tinh mộ khố ở nhật chi Mùi, mộ khố này tốt nhất đừng động tới nó. Năm này mệnh vận đã phạm thượng như Thiên Ngu tiên sinh đã nói "gặp mộ kị yêu" (gặp mộ rất kị mời nó), bởi vậy năm này sẽ có chuyện nạo phá thai, vì cô chưa kết hôn. Năm Nhâm Tuất trước đã ăn ở với nhiều người, không thể tránh khỏi mang thai ngầm, cô cũng không muốn làm bà mẹ chưa chồng, phá thai là con đường giải quyết duy nhất, ở đây là yếu quyết luận mệnh dùng luân lý xã hội phối hợp cùng các quy tắc mệnh lý.

    Năm 21 tuổi, năm Giáp Tý cùng chi giờ Thìn trong bản mệnh hợp thành thủy cục, thủy là một hành có tính chất tựa như Thực Thương, thuộc về biểu lộ tình cảm lãng mạn. Giáp mộc là Thương quan tinh, Giáp mộc Đào Hoa Mộc Dục ở Tý, một năm này đối với cô có thể lấy bốn chữ "nay Tần mai Sở" (nay theo nước Tần, mai lại theo nước Sở, ý nói hay lật lọng), để mô tả hết sức thích hợp lối sống buông thả của cô.

    Cô này sao khá đặc biệt vậy? Theo mệnh thì thuộc Thực thần chế Sát cách, thích khoe khoang, thích tỏ vẻ, tức tính cách thích hư vinh, cho rằng bản thân biết hết thảy mọi thứ. Bản mệnh cô cũng do sửu mùi xung và xung xuất Thất Sát là sao dục vọng ở phái nữ, nhất là năm Nhâm tuất hình thành tứ khố thìn tuất sửu mùi tề xung, Kỷ thổ đóng ở can vận là Thất Sát hết sức mạnh mẽ. Những điều này cùng hoàn cảnh xung quanh cô có quan hệ rất lớn, cô bản thân là y tá, vốn tiếp xúc thường xuyên với bác sĩ, thêm ở bát tự Tài tinh thấu ra trên, thìn tuất sửu mùi xung nhau, bản thân lại tọa khố mùi, bên trong mùi tàng Đinh hỏa, biểu thị hỏa tượng hết sức cường vượng, dục vọng rất dễ bị trêu chọc, kích thích.

    Hiện nay đang ở đại vận Kỷ Mão, Hợi Mão Mùi hợp mộc dẫn động Bính Đinh hỏa, giống như người hỏa vượng vừa thấy chuyện luyến ái liền ham muốn tình dục, muốn thể hiện ngay. Vừa đến lưu niên Nhâm Tuất, Quý Hợi, Giáp Tý đều là phương tây bắc, trợ giúp nhật can Quý thủy, thủy mộc hỏa tạo thành tuyến luân chuyển rất mạnh mẽ. Tới năm Giáp Tý là dâm loạn nhất, Tý là Đào Hoa nhật chi cho nên dâm loạn này cũng chính là mong muốn của cô, ngoài ra còn có Thất Sát tinh đều là bản khí của Sửu, Mùi, Sửu Mùi xung là luôn trong trạng thái xung động, mà xung động của loại sao chủ người khác giới này dễ đổi đàn ông, cung Phu thê Mùi chẳng những là mộ khố Thất Sát tinh mà còn là mộ khố Quý thủy bản thân, cho nên động một chút là ngủ với đàn ông.

    Nghe xong cao kiến của Trịnh tiên sinh, khiến bút giả bỗng nhiên hiểu ra trình độ kỹ thuật mệnh lý của Trịnh tiên sinh vượt xa ông, không hổ là đệ nhất cao thủ Hồ Lô Đôn trong giới mệnh lý.

    Bốc Văn bình giải:

    Thuyết "đông chí hoán niên" là cách xem mới được đề xuất bởi một bộ phận mệnh lý gia Đài Loan, bút giả đã từng đọc nhiều sách cổ cũng như giao tiếp với nhiều cao nhân mệnh lý mà chưa từng thấy nhắc đến thuyết này. Thầy Vương Hổ Ứng đã từng dùng thuyết này kiểm nghiệm trường hợp thực tế thì kết luận thuyết này không linh nghiệm. Đề cập đến học thuật mệnh lý, nói chung thì khi muốn đề xuất một lý luận (mới) thì rất cần được chứng minh trong thực tế, chúng ta chưa cần đến ví dụ đơn lẻ nào khác mà dùng chính ví dụ này để bàn, kết quả của "hoán niên" hay "không hoán viên" càng phù hợp thực tế thì càng thuyết phục.

    Khôn tạo:

    Thương Tài nhật Tài
    Giáp Đinh Quý Bính
    Thìn Sửu Mùi Thìn

    6 tuổi hành vận:
    Tài Thực Thương Tỷ
    Bính Ất Giáp Quý
    Tý Hợi Tuất Dậu

    Theo sách: năm Kỷ Mùi thi đậu hộ sĩ chuyên nghiệp (trung cấp y sĩ), cùng năm mất trinh. Nếu giải thích theo năm Gúap Thìn, tứ trụ này Sát trong thân khinh, cách cục là Thương Quan chế Sát, nhưng Thương quan tinh cách xa nhật chủ, lại lại sinh trợ cho Bính Đinh hỏa, Quan sát lại hỗn tạp thành ra một Giáp mộc Thương Quan không thể nào chế phục nổi, như vậy cách cục bất thuần. Nhưng suy cho cùng Quan sát tinh tàng ẩn ở chi mà không thấu, lại có Thương quan tinh "trông chừng", nên cô dù "nay Tần mai Sở" vẫn không đưa đẩy, lưu lạc vào kiếp phong trần, Thương quan hữu dụng cũng có một chút trình độ học vấn, Ất Hợi vận là Thương quan Trường sinh, năm Kỷ Mùi Giáp Kỷ hợp động Thương quan, cho nên thi đậu hộ sĩ chuyên nghiệp.

    Nếu như lấy qua năm Ất Tị để xem, trong mệnh Thực thần tinh duy nhất quá suy nhược, không chỉ không cách nào chế phục Quan sát, ngược lại sinh trợ Tài tinh khiến Quan sát càng vượng hơn, Thực thần không thể thành dụng thần, chỉ có thể dụng Ấn, lại thấy Ấn tinh phục tàng trong Sửu, bị Mùi thổ sát bên xung phá mất, lại do bị cái đầu bởi Đinh hỏa, cũng không thể dùng, huống hồ hành đại vận Kỷ Mão sinh Tài phá Ấn, sao có thể thi đậu hộ sĩ chuyên nghiệp? Mà tượng ở đây Quan sát vượng tướng, Thực Thương sinh Tài trợ Quan sát, Thân lại nhược và phận nữ, nhất định sẽ lưu lạc phong trần.

    Có một ví dụ có thể chứng minh:
    Khôn tạo:

    Ấn Kiêu nhật Thực
    Giáp Ất Đinh Kỷ
    Thân Hợi Hợi Dậu

    Tứ trụ này Quan sát vượng mà nhật chủ nhược, có Ấn nên không thể Tòng Quan, Thực thần sinh Tài lại Tài tinh sinh Quan, đây là một gái mại dâm (*).

    Phân tích tiếp nữ mệnh này, năm tháng Quan Sát động ắt kết hôn sớm, thuộc loại trưởng thành sớm với một tình yêu trẻ con. Niên chi Giáp mộc Thương quan chế phục Quan sát, Thương quan chủ "cự tuyệt gần gũi với đàn ông", thực tế Thương quan này vô lực, lại có Đinh hỏa dẫn hóa, chuyển sang sinh Quan Sát, hỏa là Chu tước, dưới một kẻ lời ngon tiếng ngọt hấp dẫn khó có thể giữ mình cho tốt được. Năm Kỷ Mùi, Giáp Kỷ hợp liền, thái tuế Sát tinh nhập mệnh biểu thị "Thương quan" vốn mang tính "cự tuyệt gần gũi đàn ông" hoàn toàn mất sức đề kháng, chuyển thành sức hấp dẫn khiến đàn ông mắc bẫy , vốn như trong sách nói: "Thực Thương đại biểu cho bộ phận sinh dục, dũng khí và lãng mạn...", nên cô này tất nhiên sẽ thất thân.

    Có người sẽ hỏi: Đại vận Ất Hợi Thương quan Trường sinh, chế phục Quan sát đắc lực, sao vẫn có thể ăn ngủ với nhiều đàn ông trong nhiều năm? Rất đơn giản, tựa như trường hợp nam mệnh Tài đa thân nhược hành vận Tỉ Kiếp mới có thể có vợ, (Tài) nhiều không có nghĩa là "có", mà chỉ khi có chế giữ mới có thể "có" được. Tương tự như vậy, mệnh này Quan Sát nhiều, vào vận Thân vượng chủ có nhiều đàn ông. Cùng là Thương quan ở nữ nhân nhưng vẫn có nhiều lớp ý nghĩa, trước hôn nhân chủ cự tuyệt đàn ông, sau hôn nhân lại chủ chiếm hữu đàn ông, nhất là trường hợp Thương Quan cắm rễ ở Quan tinh như cô này, thì càng chủ ham muốn chiếm hữu đàn ông. Trường hợp Quan Sát đa hiện còn Thương Quan không chế phục nổi chủ ăn ngủ với nhiều đàn ông khác nhau và cái cách mà cô có được đàn ông thường không chân chính.

    Năm Nhâm Tuất, Tuất xung Thìn, cùng Sửu Mùi tạo thành tam hình, dẫn động bốn Quan Sát, ăn ngủ với nhiều người, Đinh Nhâm hợp, hợp thành Tử tức tinh, Thìn Tuất xung lại dẫn động cung Tử Tức, cho nên mang thai. Năm Giáp Tý, Tý Sửu hợp, Tý Thìn bán hợp cục, cũng dẫn động ba Quan sát, nên "nay Tần mai Sở".

    Có một lá số cũng có điểm tương tự:

    Khôn tạo:
    Quan Tài nhật Thực
    Kỷ Đinh Nhâm Giáp
    Dậu Sửu Thìn Thìn

    Đại vận:
    Sát Quan Kiêu Ấn
    Mậu Kỷ Canh Tân
    Dần Mão Thìn Tị

    Tứ trụ này Quan sát đa hiện lại hỗn tạp, may mắn trong trụ giờ Giáp mộc Thực thần chế phục Sát tinh, cho nên sẽ không lưu lạc vào kiếp phong trần, mà còn có khả năng quý hiển. Lấy Giáp mộc làm Dụng thần, tuy lấy người có tiền và có cuộc sống sung túc, nhưng tư thông với bạn trai cũ, không giữ đạo nghĩa vợ chồng.

    Thương quan nữ mệnh cực kỳ đặc biệt, có người phạm Thương quan mà dâm đãng, có người lại một lòng chính chuyên, có người khắc phu nhiều lần kết hôn, có người sống cô độc một mình. Bí ẩn sâu xa đều ở chổ quan hệ phối hợp giữa Thương quan và Quan, độc giả cần phải để tâm nhận biết.

    (*) tam bồi nữ: khẩu ngữ; bồi là phục vụ, chạy bàn; tam bồi là phục vụ ăn, phục vụ uống, phục vụ tán gẫu; tam bồi nữ tức gái hành nghề ca-ve, bán bán bar, gái mại dâm.
    Phản bổn quy chân

  6. Cảm ơn bởi:


  7. #44
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,630
    Chương 25. Một kỳ nhân mượn con xem mẹ


    Đây là mệnh mà Từ tiên sinh luận giải:

    Càn tạo:

    Quan Tài nhật Sát
    Đinh Giáp Canh Bính
    Mùi Thìn Tuất Tý

    4 tuổi hành vận:

    Thương Thực Kiếp Tỉ Ấn
    Quý Nhâm Tân Canh Kỷ
    Mão Dần Sửu Tý Hợi

    Mệnh tạo này do Đường Sơn dật sĩ dùng Tử Vi tính ra, lúc ấy, mệnh chủ còn là một học sinh trung học đệ nhị cấp 18-19 tuổi, Tử Vi xem thấy mẹ của anh ta là một mỹ nhân, tại lưu niên Giáp Dần Ất Mão ngoại tình, năm Giáp Tý cũng thế; sự thực đúng như thế. Nếu từ khía cạnh bát tự phân tích thì thế nào? Lại nghe cao kiến độc đáo của Từ giáo quan.

    1) Trong niên chi Mùi tàng Kỷ thổ và Ất mộc, cha là Thiên Tài, Ất mộc là Chính Tài, đại biểu cho người khác giới của mẹ (trừ cha), mà Ất mộc Chính Tài lại đi kèm mẫu thân Chính Ấn, đây là tượng điềm báo ở tiên thiên.

    2) Mùi Đào hoa tại Tý, lại hợp nhập vào trong cung Phụ mẫu, giống như Đào Hoa và mẹ ở chung một chỗ. Mà nhật can Canh kim có Tuất là Hồng Diễm, trong Tuất cũng có Ấn tinh; vậy Hồng Diễm, Đào Hoa và mẹ chung một chỗ, cho nên mẹ hình hài xinh đẹp. Địa chi Thìn Tuất xung, Tý Mùi xuyên, Tuất Mùi hình, Ấn tinh bị ảnh hưởng bởi xung hình xuyên nên tâm tình khó tránh khỏi phù động, mà lại xinh đẹp cộng tiên thiên đã có khuynh hướng ngoại tình, gặp thêm Tuế vận dẫn động, sẽ đứng núi này trông núi nọ.

    3) Tám tuổi lưu niên Giáp Dần vừa vào đại vận Quý Mão kết hợp nguyên mệnh thành Dần Mão Thìn, hình thành khí thế Tài tối vượng, Mão cũng là Đào Hoa, huống hồ Giáp Dần là mộc thiên thấu địa tàng, mộc khắc thổ tức Ấn tinh bị Tài tinh tập kích, cho nên sẽ có ngoại tình. Còn năm Ất Mão cũng là mộc thiên thấu địa tàng, lại là lưu niên Đào hoa, cho nên việc ngoại tình sẽ kéo dài đến năm Ất Mão.

    4) Tới năm 18 tuổi lưu niên Giáp Tý, đã vào đại vận Nhâm Dần, Giáp là Tài cũng là sao bạn trai của mẹ, Giáp lại thông căn ở Dần, Đào Hoa đang ở Tý, Tý Thìn hợp nhập cung Phụ mẫu, Dần là lộc địa của Giáp cũng là thời điểm sao bạn trai của mẹ mãnh liệt nhất, khó tránh khỏi "chồng ra khỏi cửa dắt tay trai vào".

    Bốc Văn bình giải:

    Trong sách giải thích mệnh người mẹ phạm vào ngoại tình căn bản là chính xác, chỉ là điều hơi rườm rà, giả sử độc giả gặp một mệnh mà mẹ phạm đào hoa tương tự như vậy thì có thể lập tức nhìn ra? Thầy của người viết từng dạy cho một câu khẩu quyết, chỉ dùng một câu nói ra liền khái quát được ngay cái huyền cơ của mệnh này. Do thầy đã dặn "Khẩu quyết bất khả khinh truyền" (khẩu quyết không được tùy tiện phổ biến), cho nên không tiện công khai đến độc giả, đợi có cơ hội sẽ truyền đạt trực tiếp đến người hữu duyên. Bất quá người viết đưa vài ví dụ tương tự mà mẫu thân phạm Đào hoa, tin rằng độc giả có ngộ tính tốt có lẽ sẽ nhìn ra được manh mối trong đó.

    Càn tạo:

    Kiêu Sát nhậtTài
    Ất Quý Đinh Canh
    Mão Mùi Sửu Tuất

    Mệnh này mẹ có nhiều tình nhân, cha cũng có nhiều tình nhân.

    Khôn tạo:

    Thương Tài nhậtTài
    Bính Kỷ Ất Mậu
    Dần Hợi Dậu Dần

    Tứ trụ này mẫu thân rời quê hương đi xa nghiệp, và có tình nhân bên ngoài.

    Bạn có nhìn ra huyền cơ trong các bát tự này không?
    Phản bổn quy chân

  8. Cảm ơn bởi:


  9. #45
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,630
    Chương 26. Hàng "second-hand"

    Càn tạo:

    Tỷ Thực nhật Tỷ
    Ất Đinh Ất Ất
    Tị Hợi Dậu Dậu


    7 Tuế vận:
    Thương Tỷ Kiếp Kiêu
    Bính Ất Giáp Quý
    Tuất Dậu Thân Mùi

    Nguyên giải của Tống tiên sinh hơi lộn xộn, chỉnh lý lại thì mệnh chủ có các điểm sau:
    1. Nguyệt lệnh Hợi thủy xung chi năm Tị hỏa, đoán thời còn trẻ chuyển nhà nhiều lần, việc học không thuận lợi, chuyển trường thi cao đẳng miễn cưỡng tốt nghiệp.
    2. Nguyệt can Thực thần cao lộ, có khiếu nghệ thuật, chẳng những tài ăn nói rất tốt mà còn có thể hát dân ca.
    3. Từ bát tự có thể thấy được anh ta nói phát âm không rõ, nhưng quyết khiếu không thấy nói đến.
    4. Do Hợi thủy xung phá Tị hỏa, lại Dậu Dậu tự hình nên khi nhỏ ắt đã từng té ngã chấn thương.
    5, Bát tự lấy Thực thần và Thương quan sinh Tài làm dụng, bởi vì xung phá năm Thương quan, cho nên hai đời cha, ông từng tan nát cơ nghiệp.
    6. Sau thì nói đến việc người này năm Mậu Thìn có bạn gái, nhưng không quá hai tháng thì tan vỡ. Năm Kỷ Tị lại có bạn gái, mà còn ăn ở với nhau, sau thì chia tay nhưng vẫn dây dưa chưa dứt hẳn. Hai bạn gái của anh ta đều là "hàng second-hand" (gái đã mất trinh với người khác trước mình).

    Tống tiên sinh giải thích rằng:

    Chính Tài tinh trong Tị hỏa bị xung, và hiện tại đang hành vận trụ tháng Đinh Hợi, cho nên lúc tuổi còn trẻ không thể kết hôn, nhưng lại do Tị Dậu bán hợp cục để Thê tinh hợp nhập thê cung, cho nên mới xảy ra ăn ở với bạn gái. Vì sao các cô bạn gái đều là "hàng second-hand"? Vì Mậu thổ Chính Tài trong niên chi Tị bị xung cũng chính là bạn gái của anh đều cùng chia tay người khác sau trở lại với anh. Nên cuối cùng suy đoán vợ tương lai có thể là đã ly dị hoặc chết chồng.

    Bốc Văn giải thích: nhiều luận giải của Tống tiên sinh đều hết sức chính xác, chỉ có hai điểm tôi xem khác ông. Tống tiên sinh đem Mậu thổ trong Tị gán thành bạn gái của mệnh chủ, tôi cho rằng trong bát tự nếu không có bản khí Tài tinh mà lại có Thương quan Thực thần thì chọn Thương quan Thực thần làm bạn gái hoặc vợ, không cần tìm thêm Tài tinh. Tại sao? Một mặt là bởi Thương Thực đều là nguyên thần của Tài, Dụng thần không hiện thì xem nguyên thần; mặt khác Thương quan Thực thần đều là thần chủ vui vẻ, hạnh phúc, đồng thời lại mang hàm nghĩa phái nữ, cho nên có thể tượng trưng cho bạn gái hoặc vợ. Đương nhiên từ bản tạo mà nói, Thương quan Thực thần chỉ có thể đại biểu bạn gái, không có thể đại biểu cho vợ. Bên cạnh điểm giống và khác, tứ trụ này bạn gái là hàng second-hand chẳng phải do Tị hỏa bị Hợi thủy xung, mà là do Tị hỏa cái đầu Tỉ Kiên.

    Dưới đây là phân tích của tôi:

    Lấy Tị hỏa làm bạn gái thứ nhất, cô Tị cái đầu Tỉ Kiên, nói rõ cô trước vốn là bạn gái của người khác, và tương lai sẽ trở lại thành bạn gái của người đó. Tị hỏa này muốn hợp nhập thê cung và Tị Dậu bán hợp cục, cho nên cô và mệnh chủ có yêu đương một thời gian ngắn và phát sinh ăn ngủ với nhau, nếu Tị hỏa không hợp với Dậu, tình huống này lại khác là yêu nhau nhưng sẽ không phát sinh quan hệ ân ái. Lại cũng do nguyệt lệnh Hợi thủy ngăn cách ở chính giữa xung phá Tị hỏa, cho nên thời gian quen nhau rất ngắn, hai tháng liền chia tay. Quen ở năm Mậu Thìn là bởi vì Thìn thổ Tài tinh hợp nhập nhật trụ, đây là ứng kỳ kích động hôn nhân.

    Lấy Đinh hỏa làm bạn gái thứ hai, Đinh này bị kẹp giữa hai Ất, biểu tượng như hai chân cô đạp hai thuyền. Nhưng cẩn thận phân tích, niên can Ất mộc đứng trước là tốt cho cô, nhưng niên trụ lại bị nguyệt trụ xung, cho nên dám chắc là cô sau khi bỏ anh chàng đầu tiên liền quay sang mệnh chủ, do đó sẽ không có cạnh tranh (tranh hợp), gốc duy nhất của cô là Tị hỏa, cho nên Tị này có thể tượng trưng cho thân thể của cô, bị Ất mộc áp chế, liền biểu thị thất thân với bạn trai trước, do vậy cũng là một "hàng xài rồi".

    + Đinh hỏa và Nhật chủ sát nhau và sinh trợ, biểu thị mệnh chủ rất thích người bạn gái thứ hai này, Đinh hỏa ám hợp ngay tại chi Hợi, Hợi là Trường sinh và cũng là gốc duy nhất của nhật chủ, có thể biểu thị thân thể mệnh chủ, tự nhiên hai người họ sẽ ăn ở với nhau.

    + Tại sao người bạn gái thứ hai xuất hiện ở năm Kỷ Tị? Bởi vì Tị xung nhập Hợi, Tị là bạn gái, có thể suy đoán nhất định là bạn gái liên lạc trước với anh ta. Do Đinh và Hợi ám hợp, cho nên thời gian quan hệ với người bạn gái thứ hai này khá lâu, dự đoán của tôi có lẽ tới năm Canh Ngọ cũng chưa chia tay, do trong nguyên văn không thấy đề cập nên không cách nào chứng thực. Về phần bạn gái thứ hai có thể trở thành vợ của anh ta trong tương lai hay không, tôi và Tống tiên sinh cùng nhất trí là sớm muộn thì cũng chia tay, nguyên do có Giáp trong Hợi, không cần giải thích, trong thời gian cô quan hệ cùng mệnh chủ sẽ xuất hiện một tình nhân khác của cô.

    Tại sao cho rằng lý luận của Tống tiên sinh về hàng second-hand không đứng vững được, tôi đưa ra một lá số làm rõ:

    Càn tạo:
    Thực Sát Nhật Thương
    Đinh Tân Ất Bính
    Mùi Hợi Tị Tý

    Nhật chi Tị hỏa Thương quan kèm Chính Tài (Mậu), bị nguyệt lệnh Hợi thủy xung phá, nhưng anh ta muốn tìm một người vợ trong trắng. Niên chi Mùi thổ Tài tinh có thể xem là bạn gái trước kia, do không phát sinh quan hệ không cùng nhật cho nên anh ta cùng cô đó không đi quá giới hạn. Có người nói, Hợi là thân thể của nhật chủ, Mùi và Hợi hợp, không phải biểu thị tiếp xúc thân thể sao? Lý do là Hợi không phải là gốc duy nhất của nhật chủ, cho nên Hợi không thể xem là thân thể của nhật chủ được. Về cách xem mệnh chủ phát âm không rõ, có thể tìm đọc kỳ hai của sách Bốc Văn Mệnh Học là "Tảo sản nhi đích chiết ma" (cái cực khổ của trẻ sinh thiếu tháng)

    Tống tiên sinh lại đem mệnh bạn gái anh này ra phân tích:

    Khôn tạo:
    Sát Tài nhật Quan
    Ất Quý Kỷ Giáp
    Tị Mùi Sửu Tuất

    Nguyên giải:

    Người này vì sao chỉ ăn ở sống chung mà không kết hôn? Vì sao có loại cá tính phóng khoáng này? Trình độ học vấn thế nào? Dáng dấp xinh đẹp phải chăng có thể nhìn thấy trong lá số?

    Đầu tiên, chúng ta cần phải định vị Quan Sát tinh và Phu cung cái đã, không nên vừa thấy Quan Sát tinh liền cho là chồng. Nhật chi là phu cung của cô, phu cung chính là chỗ đứng của chồng cô, Quan Sát chính là sao chủ bạn trai và chồng, sao bạn trai này tùy thời điểm sẽ thay đổi, gặp xung hợp hội hình xuyên sẽ biến động, còn phu cung Sửu thì cố định. Phu cung không có phu tinh, còn can năm Ất mộc Thất Sát thông căn với Mùi, can giờ Giáp mộc Quan tinh mộ khố tại Mùi, loại bát tự Quan Sát hỗn tạp này đối với phái nữ mà nói thì cá tính tương đối phóng khoáng. Cũng chính là Thất Sát ở can năm, thông căn ở chi tháng Mùi, những sao chủ người khác giới này ở trụ năm tháng không cách nào hợp nhập phu cung Sửu, cho nên ít nhất phải trải qua hai ba mối tình mới có thể kết hôn.

    Huống chi, nữ mệnh năm thấu Thất Sát có khả năng thất trinh trước khi cưới rất cao, với lại Địa chi Sửu Mùi xung, ban đầu Thất Sát Ất mộc vốn có thể thành phu tinh, nhưng do Sửu Mùi xung, phu tinh bị xung, Ất mộc liền không thể đóng vai trò phu tinh được, điều đó biểu thị dấu hiệu rất rõ ràng cô thất trinh trước khi cưới. Quan Sát hiện song song, gốc duy nhất lại bị xung, cho nên đây là mệnh hôn nhân không sáng sủa, cần phải kết hôn muộn. Cô này chỉ giao thiệp lung tung với đàn ông nhưng cũng không phải sa ngã phong trần do bát tự cô không phải là kim thủy quá vượng, chỉ là không quá coi trọng chữ trinh, không sống quá nguyên tắc mà thôi.

    Bát tự cô địa chi Thất Sát bị xung, trụ giờ Giáp mộc Chính quan thấu can, thà ta đem Chính quan này thành chồng của cô, cho nên lập gia đình trễ mới ổn và trước 30 tuổi rất khó kết hôn. Sao khác giới muốn tiến nhập phu cung mà đều bị xung, cho dù miễn cưỡng ăn ở cũng không lâu dài.
    Phu cung tam hình gặp xung, Sửu Mùi xung cung phụ mẫu bị tổn thương, anh chị em sẽ có một hoặc hai người chết trẻ, bởi vì chi tháng cung phụ mẫu chẳng những gặp xung mà còn gặp hình Tuất Mùi. Phu cung thụ xung cũng có thể diễn tả thành cô ta khả năng kết hôn sớm hoặc ăn ngủ với nhau, thậm chí cũng có thể chỉ hơn 10 tuổi đã mất trinh. Nữ mệnh này do can năm Ất mộc và chi tháng Mùi đều không thể tiến nhập phu cung, cô ta nhất định phải trải qua hai ba anh mới có thể kết hôn, thậm chí đôi khi phối hợp thêm lưu niên thì chưa chắc dừng ở con số này, khả năng nhất là đến lúc xuất hiện lưu niên Giáp mộc thì mới luận đến cưới xin.

    Vì sao cô ở năm Kỷ Tị ăn ở sống chung với người khác? Nhật chi Sửu là phu cung cũng chính là chỗ đứng của chồng, cùng lưu niên tạo thành Tị Sửu củng hợp, ở lưu nguyệt Quý Dậu, Tị Dậu Sửu tam hợp kim cục làm Thực Thương tinh, Thực Thương bài xuất hữu lực thì tình cảm dễ dàng phát huy, năm tháng đều hợp nhập phu cung mới có chuyện ăn ở với nhau, nếu như phu tinh hợp nhập phu cung thì có khả năng kết hôn. Vào năm 22 tuổi Bính Dần có dấu hiệu ám hợp phu cung, ám hợp là ám muội bất minh, lén lén lút lút, năm này dù không ăn ở, sống thử thì ít nhất cũng cùng bạn trai vào khách sạn.

    Theo kết cấu mệnh này thì trước 17 tuổi thuộc vận trụ năm Ất Tị, phối hợp lưu niên Quan Sát sẽ gặp phiền phức với bạn trai. Ở trước 34 tuổi thuộc vận hạn nguyệt lệnh Quý Mùi, cũng đều có tượng phiền não với đàn ông, tiếc là không hợp nhập phu cung, không phải là chồng của cô, bởi vậy có thể thấy được chuyện yêu đương của cô có nhiều biến động. Tại năm 26 tuổi lưu niên Canh Ngọ, Ất Canh hợp, Ngọ Mùi hợp, nghĩa là Thất Sát hợp hóa có thể kết hôn. Nhưng tốt nhất kết hôn ở lưu niên Chính quan, bằng không tình cảm vợ chồng dễ bất hòa, hoặc sau 30 tuổi kết hôn cũng khá tốt.

    Về phần trình độ học vấn của cô, cái này cần xem vận hạn thuở nhỏ và đại vận. Xét hạn (trước 17 tuổi) trụ năm Ất Tị và đại vận Giáp Thân, tuy có một vài Tài tinh và Thực Thương, nhưng có Quan Sát tinh hư phù ở thiên can, đối với nữ mệnh chủ gặp phiền phức với đàn ông, học hành không thể chuyên tâm, nên trình độ tốt nghiệp cao đẳng thì cũng không tệ.

    Cô cao chừng 1m60, người săn chắc, dáng dấp xinh đẹp. Những điều này làm thế nào xem thấy trong bát tự? Xin mời độc giả tự nghiên cứu. Còn như các bạn gái của nam mệnh đã bàn ở trên đều xinh đẹp, thì cách xem như thế nào? Trần sư huynh chỉ cười không đáp.

    Sự thật:

    Nam mệnh này sinh ra ở miền trung, nhà làm nghề kinh doanh cà phê, anh hiện nay làm ở một cơ quan nhà nước về giao thông ở miền trung, những luận đoán bên trên đều là những điều anh đã trải qua, còn nữ mệnh là bạn gái sống chung với anh ta, tuy nhiên hai bên đều thuộc kiểu tình cảm mãnh liệt, nhưng cứ hợp hợp chia chia liên tục, hiện nay đang ở trong trạng thái tình cảm thắm thiết.

    Bốc Văn bình giải:

    Tống tiên sinh trình bày và phân tích rất thấu đáo, nhưng vẫn có hai điểm đáng để trao đổi:

    - Thứ nhất, Tống tiên sinh cho là chỉ có nữ mệnh kim thủy vượng mới có thể sa ngã phong trần, thực ra nữ phong trần là do kết cấu bát tự tạo thành, kim thủy vượng hay không vượng không quan hệ đến, thử đưa một ví dụ:

    Khôn tạo:

    Tài Ấn nhật Kiếp
    Đinh Tân Nhâm Quý
    Dậu Hợi Tý Mão

    Nữ mệnh này hôn nhân không tốt, sau ly hôn có bồ, nhưng vẫn chưa thấy sa ngã phong trần.

    Quan thương nhật Tỷ
    Mậu Giáp Quý Quý
    Thân Tý Hợi Hợi

    Nàng này thủy vượng hơn, hôn nhân cũng không tốt, sau ly hôn có bạn trai, nhưng chưa bao giờ làm gì bậy bạ.

    - Thứ hai, vì sao cô ở năm Kỷ Tị ăn ở với nhau, Tống tiên sinh cho rằng là "...Tị Dậu Sửu tam hợp kim cục làm Thực Thương tinh, Thực Thương bài xuất có lực, tình cảm dễ phát huy,..." cái này trước sau có mâu thuẫn, trước nói Thương Thực tinh khắc chế Quan Sát, khiến Quan Sát tinh không cách nào tiến nhập phu cung, giờ thành lý do ăn ở với nhau.

    Thực ra sống chung với nhau năm đó do Giáp Kỷ chánh hợp, trong nguyên cục Giáp Kỷ vốn đã hợp, gặp lại năm Kỷ hoặc năm Giáp biểu thị chủ ứng kỳ phu tinh đến. Và chính do địa chi ám hợp thành Thực thần cục, khiến cho tình duyên chồng hờ vợ tạm chấm dứt. Hôn nhân chân chính của cô phải đến vận Đinh Hợi mới có thể có được, bởi Hợi là Trường sinh của Quan tinh, phu tinh đáp xuống gốc của mình, cô ta mới có thể giữ được một chồng yên ổn.
    Phản bổn quy chân

  10. Cảm ơn bởi:


  11. #46
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,630
    Chương 27: Hàng second-hand (tiếp tục) - Không phải oan gia thì đâu gặp.

    Càn tạo:

    Thực Kiếp nhật Ấn
    Kỷ Bính Đinh Giáp
    Mão Tý Mùi Thìn

    Đại vận:
    Kiêu Ấn Sát Quan Tài Tài
    Ất Giáp Quý Nhâm Tân Canh
    Hợi Tuất Dậu Thân Mùi Ngọ

    Tống tiên sinh phân tích:

    Ngũ hành bát tự thiếu kim, không chút Tài tinh, nên cần kết hôn muộn. Nhưng anh mãi đến 36 tuổi lưu niên Giáp Dần, đại vận Quý Dậu mới kết hôn, vì sao kết hôn thời điểm này? Từ quan điểm mệnh lý, nguyên cục nhật can Bính hỏa thấu can, Bính hỏa Kiếp tài tùy thời sẽ đoạt Tài tinh thấu xuất ở lưu niên, hơn nữa đại vận Giáp Tuất trong độ tuổi kết hôn, mộc sanh hỏa, Mão Tuất hợp hỏa, đã gia tăng khí thế của Bính hỏa Kiếp tài, nên mặc kệ bạn gái mà anh qua lại đối với anh sâu đậm thế nào thì đều bị người khác đoạt mất.

    Tới đại vận Quý Dậu, Quý thủy Thất Sát có thể chế Bính hỏa Kiếp tài, chi vận Dậu kim là Tài tinh, lẽ ra vừa gia nhập đại vận này là lúc có thể kết hôn, nhưng không ngờ Quý thủy bị Kỷ thổ sát bên Bính hỏa khắc đoạt, tới năm Giáp Dần là mộc thiên thấu địa tàng dẫn động can giờ Giáp mộc hợp khắc Kỷ thổ, khiến Bính hỏa mất yếu tố bảo vệ, cho nên không cách nào đoạt Tài và như vậy vận chi Dậu kim Tài tinh mới có thể hợp nhập mệnh, tiếc là địa chi Dần là đất Tuyệt Thai, làm mầm móng tai họa để chôn nhật chủ xuống sau này. Quý Dậu đại vận kết hôn thì có thể đoán kết hôn với một cô đã thất trinh, bởi vì kết hợp phía trước có Mão Dậu xung, còn sau thì Thìn Dậu hợp.

    Tới đại vận Nhâm Thân, Thân kim là Chính Tài cùng nguyên cục hợp hóa thành thủy cục Thân Tý Thìn, Thê tinh bị hợp biến thành thứ khác, bởi vậy, ở Thân vận bà xã anh ta đã có những hành vi vượt quá giới hạn, chỉ là lén lén lút lút mà không dám lộ liễu thôi. Tuy Tài tinh dù biến chất, nhưng vận can Nhâm thủy vẫn có thể khắc chế tính kiêu ngạo Bính hỏa Kiếp tài, 50 tuổi giao nhập đại vận Tân Mùi, Tân kim Tài tinh thấu can bị Bính hỏa Kiếp tài hợp, chẳng khác nào thê tinh anh ta bị cưỡng đoạt mà không một chút nể mặt, chẳng những chỉ có thế, anh ta ở vận trình Quý Dậu, Nhâm Thân khổ tâm rầu rĩ vì tiền kiếm được cũng theo việc ngoại tình của vợ mà đội nón ra đi.

    Ở nguyên cục can năm Kỷ thổ Thực thần tọa Mão Thiên Ấn, lại là cung tổ tiên, Thực thần bị Thiên Ấn khắc chế, ở vận trình Ất Hợi đã khiến thế lực Thiên Ấn mạnh hơn. Thực thần là văn tinh, bị kiềm chế bởi Thiên Ấn nên anh ta khi đi học từng có thời gian gián đoạn, còn nguyên nhân gián đoạn rất có thể do gia đình hoặc các bậc bề trên tác động. Anh ta thời thanh niên khá phong lưu, rất thích lui tới vũ trường sàn nhảy, bởi vì trong thời vận thuộc nguyệt trụ Bính Tý đều là Đào Hoa của năm và ngày, hơn nữa vợ mà anh cưới khá xinh đẹp, điểm này người viết vẫn không cách nào từ trong bát tự nhìn ra được huyền cơ, nhường độc giả tự bản thân dò tìm mà lĩnh hội.

    Trong mệnh vì cung thê Mùi bị Mão hợp, Tý xuyên, Thìn hình nên rất không ổn định, Thực Thần Kỷ thổ bị Giáp mộc khắc, Thực Thương tinh là sợi dây tình cảm của nam đối với vợ, Thực thần đã bị kiềmchế, từ hai điểm này, tình cảm vợ chồng họ nhất định rất xấu.

    Ông X này sau khi nghe người viết đoán xong mới tiết lộ vợ mình trước khi cưới "lăn lộn trên tình trường" (*), chưa chuẩn bị tâm lý mà vội vàng kết hôn. Thời gian đầu sau kết hôn luôn tuân thủ đạo nghĩa vợ chồng, mãi đến vài năm trước mới phát hiện hành vi bất thường của vợ, ngạc nhiên nhất là bất động sản của ông toàn mang tên vợ, mà theo quy định phân chia tài sản hiện hành, giờ mà đòi ly hôn thì không biết như thế nào cho phải? Tuân thủ lời dạy xưa: "Khuyến hòa bất khuyến ly" (nói vô chứ đừng nói ra, tức khuyên hòa giải chứ không khuyên chia ly), người viết chỉ biết lặng thinh hỏi ông trời vậy. Đúng là: "Xuân sắc mãn viên quan bất trú, nhất chi hồng hạnh xuất tường lai" (**)

    Bốc Văn bình giải:

    Tống tiên sinh giải thích rất có giá trị tham khảo, người viết có vài điểm bất đồng trong cách luận.

    1. Cung thê phùng xung không phải là nguyên nhân vợ mất trinh trước khi cưới, điểm này ở trên đã trình bày rồi, không nói thêm nữa.

    2. Năm Giáp Dần kết hôn cũng không phải do Giáp hợp Kỷ khiến Kỷ không khắc Quý, Quý khắc được Bính, Bính không cách nào đoạt Tài mà kết hôn, lòng vòng quá, năm Giáp Dần là Trường sinh của hỏa, Giáp mộc sanh hỏa trực tiếp, là năm Tỉ Kiếp sinh vượng, cho nên chuyện kết hôn có lý do khác.

    Vậy vợ thất trinh trước hôn nhân lý do ở chổ nào? Tôi cho rằng bát tự vô Tài, cung thê tọa Thực thần có thể lấy Thực thần làm vợ, hiện Thực thần Mùi bị niên chi mão bán hợp, Mão mộc khắc Mùi thổ, Mão là Quan của thổ, tức là Quan của Mùi, biểu thị là bạn trai của vợ trước hôn nhân, mà còn do nguyên thân (bản khí của Mùi xem thành nguyên thân) của Mùi xuất hiện ở can năm hợp với Giáp mộc, chủ vợ từ xưa đã có nhiều bạn trai, thê tinh Mùi cũng là khố Quan Sát cũng có thể cho thấy bà này trải qua rất nhiều (mối tình với) đàn ông, đàn ông lại dễ dàng bị bà ta mê hoặc, cho nên là một phụ nữ nhiều kinh nghiệm trăng gió, người như vậy rất dễ cho ông "mọc sừng".

    Mệnh này ở vận Giáp Tuất chưa kết hôn cũng không phải do tăng khí thế của hỏa mà là do Tuất hình Mùi, cung thê và sao vợ Mùi không thể ổn định, không cách nào kết hôn. Vận Quý Dậu kết hôn cũng không phải lý do Tài Dậu hợp Thìn mà là bởi vì nguyên nguyên Mão Mùi bán hợp cục, Thê tinh thụ chế, vận Dậu xung khử Mão khiến Thê tinh được phóng thích mới có thể kết hôn, vì vậy mà thời gian kết hôn vừa không phải là năm Dậu Tài tinh xuất hiện vừa không phải năm Sửu Tài tinh gặp hợp, mà là ứng kỳ ở năm Giáp Dần hợp khử nguyên thân Kỷ của Mùi thổ, năm này vợ bỏ vị trí lầu xanh "Kỷ", chuyển vào vị trí vợ Mùi. Vào vận Nhâm Thân, Thân Tý Thìn hợp thủy cục vốn dỹ kim đang chế mộc trở thành thủy sinh mộc, khiến tình nhân "Mão" của thê tinh tinh"Mùi" trong nguyên cục từ trạng thái khống chế chuyển thành trạng thái tư sinh, tự nhiên làm cho "hồng hạnh xuất tường". Đến vận Tân Mùi, Mùi thổ Thê tinh phục ngâm ở vận, biểu thị muốn ly khai vị trí vợ ban đầu, vả lại trực tiếp hợp cùng mão, biểu thị công khai hóa quan hệ với tình nhân, còn Tân kim Tài tinh hư thấu gặp Bính hợp khử cũng không phải là biểu thị cho việc vợ theo tình nhân mà biểu thị bản thân ông phá tài, do Tài tinh Tân đóng ở dưới là Mùi thổ vợ, dỹ nhiên là chủ vợ ôm tiền đi mất. Tượng mệnh như vậy, năm Tân Mùi tất chia ly chắc chắn, còn khuyên nhủ hòa giải không bằng khuyên chuẩn bị sớm, không còn cần thiết nữa thì uổng công duy trì một cách miễn cưỡng.

    Phân tích nhiều như vậy cũng không liên quan đến hỷ dụng thần của mệnh này, thực ra xem mệnh có rất nhiều cách, theo tục truyền thì người phát minh tứ trụ đầu tiên Lý Hư Trung đã dùng nạp âm ngũ hành xem mệnh, còn thầy tôi theo cách không cần dùng dụng thần để đoán mệnh, hay là còn có người dùng "kim khẩu quyết" đoán cũng vẫn đúng. Tôi chủ trương học mệnh phải đạt mức hiểu nhập tâm, cần phải "dung hối quán thông", tức dung hòa các mặt tri thức và đạo lý để hiểu một cách toàn diện, chớ nên rập khuôn cứng nhắc.

    Một mệnh có điểm tương tự:
    Càn tạo:

    Thực Thực nhật Sát
    Kỷ Kỷ Đinh Quý
    Hợi Tị Mùi Mão

    Hành vận Đinh Mão, năm Giáp Tý đính hôn, năm Ất Sửu kết hôn, sau ly hôn lại cưới vợ, lý do là bởi Kỷ thổ Thê tinh đa trọng. Đương nhiên, tứ trụ này niên nguyệt Thê tinh Kỷ thổ không tọa tại Quan tinh cũng không hợp Quan, người vợ mà anh cưới một lòng chung thủy. Nhưng trong mệnh anh đã định trước phải cưới ba vợ mới được.

    (*) phong nguyệt trường sở: có phải chỉ ở quán bar, lầu xanh?

    (**) Hai câu thơ trong bài thơ Du Viên Bất Trị, tác giả là nhà thơ nổi tiếng thời Nam Tống, Nghiệp (Diệp) Thiệu Ông. Ở đây tác giả ý muốn nói, dù tường có cao đến mấy cũng không giấu nỗi một đóa hoa (ý nói người con gái) đang ở tuổi xuân thì. Nhưng câu nói “Hồng hạnh xuất tường” lại ý chỉ người phụ nữ trèo tường đi ngoại tình.

    Du Viên Bất Trị
    Ưng liên kịch xỉ ấn thương đài,
    Tiểu khấu sài phi cửu bất khai.
    Xuân sắc mãn viên quan bất trú,
    Nhất chi hồng hạnh xuất tường lai.

    Nghĩa:
    Thương thay cho rêu xanh bị in dấu giày dẫm lên,
    Gõ nhỏ cánh cửa, đợi hồi lâu không thấy mở.
    Xuân sắc đầy vườn không thể khoá nổi,
    Một cành hồng hạnh vượt tường ra ngoài.


    Thơ:
    Sợ chăng guốc phạm lối rêu,
    Mười lần gõ cổng, chín đều lặng thinh.
    Vườn bưng khó nhốt xuân xinh,
    Vượt tường hạnh đỏ một cành khoe bông.
    Phản bổn quy chân

  12. Cảm ơn bởi:


 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •