Chương 22: Người tài khiêm tốn luận theo cung bàn đẩu số


Mệnh nam:

Kiếp Tỷ Nhật Sát
Bính Đinh Đinh Quý
Thân Dậu Mùi Mão


1 tuổi vào vận:
Thương Thực Tài Tài
Mậu Kỷ Canh Tân
Tuất Hợi Tý Sửu


Đây là một phi hành viên không quân, năm Kỷ Tỵ 34 tuổi, vào tháng Kỷ Tỵ gặp tai nạn phi cơ. Chúng ta xem Tống tiên sinh giải thích tứ trụ này:
Từ trong mệnh chúng ta có thể thấy được trụ tháng Đinh Dậu và trụ giờ Quý Mão phạm thiên khắc địa xung, mà còn là Trường Sinh gặp xung, vì thế tại vận hạn thuộc trụ Đinh Dậu có một đại nạn. Đặc biệt ở thời gian 16, 17 tuổi hoặc 33, 34 tuổi lúc giao thoát vận.

Năm 31 tuổi bắt đầu vận Tân Sửu, chẳng những Sửu là Mộ khố của Đinh mà còn thiên khắc địa xung trụ ngày Đinh Mùi, buộc Sửu Mộ khố hoàn toàn mở tung. Với tình huống này, anh ta trong 10 năm hành vận Tân Sửu từ 31 tuổi đến 40 tuổi, bản thân sẽ có sự việc phát sinh liên quan đến tính mạng. Đây là tượng của nguyên cục bát tự, mà ở năm Kỷ Tỵ, tháng Tị Dậu Sửu có khí lệnh vượng nhất. Tam hợp Tị Dậu Sửu đây chính là phùng mộ kị yêu, tức là mộ khố kị gặp hợp trong mệnh. Trong khoa Đẩu Số điều cần chú ý là cung Tật Ách cùng cung Phụ Mẫu đối xung, trong bát tự thì nhận xét lục thần Ấn tinh. Địa chi của bát tự này gặp kim mộc giao chiến, bản mệnh là kim khắc mộc, tức Tài phá Ấn. Dưới sự dẫn động của đại vận Tân Sửu và lưu niên Kỷ Tị, Tị Dậu Sửu hợp thành kim cục, nên toàn bộ Ấn tinh của bản mệnh bị khắc sạch. Trong lá số của khoa Đẩu số, cung Tật ách với cung Phụ mẫu bị khắc mất, tức là cung Tật ách bị xung, giống như Dụng thần trong bát tự bị xung sẽ có hiện tượng không tốt phát sinh.

Bốc Văn bình giải: Nguyên nhân dẫn đến chết của tứ trụ này là bởi vì Tài tinh phá Ấn, mà không phải vì „phùng mộ kị yêu“. Sự giải thích của Tống tiên sinh ở phần sau là chính xác hơn. Tứ trụ này lấy Mão Ấn làm thọ nguyên tinh của mệnh chủ, gặp Mão Dậu xung là có tượng tổn thọ. Đến năm Kỷ Tỵ tam hợp kim cục khắc thọ, huống chi Sửu xung Mùi làm cho mộc trong Mùi cũng bị khắc tận, đấy là ứng kỳ tử vong. Bởi vì Mão mộc có tượng là xe, Mão gặp Không vong, là xe ở không trung, cho nên ứng với phi cơ bị lỡ sự mà chết. Thực tế những ví dụ về Dậu xung Mão mà tử vong do tai nạn xe cộ như vậy là rất nhiều:

Ví dụ mệnh ngôi sao ca nhạc Trương Vũ Sinh:

Mệnh nam:
Kiếp Ấn Nhật Sát
Bính Giáp Đinh Quý
Ngọ Ngọ Dậu Mão

Hành vận Đinh Dậu, năm Đinh Sửu, điều khiển máy bay bị lỡ sự mà chết. Dậu xung Mão ứng với phi cơ, Tài phá Ấn, phi cơ bị phá hủy mà mạng vong.

Thêm một mệnh nam khác:

Ấn Sát Nhật Ấn
Giáp Quý Đinh Giáp
Dần Dậu Mão Thìn

Tứ trụ này hành vận Ất Hợi, lưu niên Ất Hợi bị tai nạn xe cộ tử vong. Cũng là có Mão Dậu xung, chỉ là do thọ nguyên tinh mệnh này là Tài, đại vận lưu niên hợp Ấn tinh vượng, xung phá Tài tinh mà chết.

Mệnh người vợ phi công sinh năm Nhâm Dần, tháng 3, ngày 8, giờ Mão như sau:

Thực Tài Nhật Ấn
Nhâm Giáp Canh Kỷ
Dần Thìn Thìn Mão


3 tuổi vào vận:
Thương Thực Kiếp Tỷ
Quý Nhâm Tân Canh
Mão Dần Sửu Tý

Tống tiên sinh phân tích: Cô này có bát tự rất đặc biệt, chẳng những gặp cung phu [địa chi trụ ngày] phục ngâm, mà sao đại diện chồng là Bính hỏa trong chi năm Dần bị Dần Mão Thìn hội thành đông phương mộc. Bính hỏa Thất Sát mất đi hiệu lực, còn bị Nhâm thủy cái đầu khắc, nghĩa là Bính hỏa tàng trong chi bị thiên can Nhâm thủy khắc cùng trụ, cho nên nguyên cục mệnh này có dấu hiệu khắc chồng và 2 lần hôn nhân.

Năm 23 tuổi, đại vận Tân Sửu cùng trụ tháng Giáp Thìn tương hình, cũng có nghĩa là đại vận Tân Sửu hình cung phu 2 lần. Năm 28 tuổi Kỷ Tỵ, trong Tỵ tàng Bính hỏa cùng phu tinh Bính hỏa trong chi năm tương hình, tức là Dần Tỵ hình và Sửu Thìn hình. Cung và tinh sao đều tương hình mà ở trong nguyên mệnh đã có tượng hình chồng, chứng tỏ có dấu hiệu năm nay chồng của cô ta xảy ra chuyện vợ chồng gặp cảnh chia lìa. Dựa vào sách cổ nói rằng nữ mệnh gặp Thương Quan là khắc chồng, cung chồng chi Thìn có ẩn tàng Thương Quan, mà trước mắt hành vận Sửu là mộ khố của Chính Quan Đinh hỏa, tượng ý là khống chế người chồng.

Cho nên từ điểm này mà xem số mệnh vợ chồng, thì chồng của cô ta bị lỡ sự mà gặp dữ nhiều lành ít.

Chúng ta khi nói đến khoa Đẩu số thì có thể dựa vào cung bàn mà ứng dụng, còn bát tự có thể dựa vào trụ gọi là cung để luận mệnh không? Trả lời là có thể, vậy bát tự có thể dựa vào cung bàn luận như thế nào? Đầu tiên chúng ta phải hiểu rõ, trụ năm là cung tổ tiên ông bà, trụ tháng là cung phụ mẫu, trụ ngày là cung phu thê, trụ giờ là cung tử tức.

Thời xưa có một số người có 3 vợ 4 nàng hầu; xét cung phu thê của người đó có vấn đề gì phát sinh mà nhiều vợ như vậy? Người vợ nào sẽ có trở ngại, hoặc xem cung tử tức có vấn đề gì thì xem thế nào? Những điều này có khi chúng ta luận mệnh cảm thấy nan giải mà không có cách nào trả lời được. Lúc này thì phải dùng đến các cung mà luận, vì có thể từ các cung của bát tự mà diễn giải ra được vấn đề.

Bốc Văn giải bình: Tống tiên sinh không thể giải thích vững vàng được quan điểm vì sao chồng chết trong tứ trụ này. Đầu tiên, Dần tàng phu tinh Bính hỏa; hỏa nhập đất Trường Sinh. Nhâm thủy cái đầu rất nhược, vì Dần có tác dụng nạp thủy, Nhâm thủy không có cách nào khắc Bính hỏa trong Dần. Hơn nữa chồng chết vào vận Tân Sửu, năm Kỷ Tỵ, Nhâm thủy ở năm này không những không vượng, trái lại đã bị khắc chế, làm sao mà có thể khắc chồng chứ?

Tống tiên sinh giảng vận Tân Sửu cùng trụ tháng Giáp Thìn tương hình là không có căn cứ. Cho dù trong sách luận Sửu và Thìn là tượng hình hay không, Tân cùng Giáp cũng không tương hình. Hơn nữa xem cung chồng thì có thể xét địa chi ngày Thìn thổ, mà không nghe nói lấy trụ tháng xem là cung chồng. Sửu là khố của Đinh hỏa, nói như vậy thì chưa hẳn bảo vệ được ý kiến của mình, huống chi trong mệnh và trong vận đều không có Quan tinh Đinh hỏa, làm sao có thể nhập khố? Đạo lý là Quý thủy trong Thìn ở khố không xuất ra, bản thân rất nhược, càng không thể khắc Quan tinh. Cho nên giải thích của Tống tiên sinh hoàn toàn không thể chứng minh cho quan điểm của mình.

Mệnh này luận vì sao chồng chết không hoàn toàn rõ ràng. Tôi phân tích dưới đây hẳn là củng cố được lý do mình đưa ra:

Tứ trụ này mộc vượng thổ suy yếu, mộc nhiều hỏa nhược, phu tinh phu cung đều chịu khắc chế, tượng của chồng trong mệnh vì thế nguyên thủy là nhược. Hành vận Tân Sửu, Dần Sửu ám hợp, trong đó có Giáp Kỷ ám hợp, Bính Tân hợp, sao chồng là Bính hỏa có Giáp mộc bảo vệ, nhưng bởi vì ám hợp mà mất đi nguyên tính. Nhược mà gặp hợp tức là có tượng tử vong, cho nên trong vận Tân Sửu chồng chết. Vấn đề tử vong thông thường ẩn nấp ở trong địa chi bị khắc, đa phần ứng ở năm suy mà thấu can. Nếu trong đại vận này có lưu niên Bính Tý, Bính Thân hoặc Bính Thìn tức là có thể đoán năm đó chồng chết. Đại vận này lại gặp năm Bính Dần là vượng mà thấu can, cho nên không ứng ở năm Bính Dần chồng chết, mà ứng vào năm Kỷ Tỵ chồng chết, đó là do Tỵ hỏa Quan tinh xuất hiện, gặp sự cố trong vận Sửu thổ ám hợp; Dần Tị tương hình không có liên quan.