Chào mừng đến với Tử Bình diệu dụng.
Trang 1 của 5 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 44
  1. #1
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,491

    Mệnh lý chân quyết đạo độc

    Dạo này anh Lesoi dẫn dắt trào lưu Phong Thủy của diễn đàn lên cao quá, sợ mọi người hết "hứng thú" với Tử Bình, em xin phép các đại ca cho đăng một số chương của cuốn Mệnh Lý Chân Quyết Đạo Độc - Phong Hỏa hợp đính bản, đã được dịch trong Phòng Dịch thuật ra diễn đàn để mọi người cùng bình luận.

    Mệnh Lý Chân Quyết Đạo Độc - Phong Hỏa hợp đính bản
    Nguyên tác: Tống Anh Thành
    Bình chú: Đoàn Kiến Nghiệp
    Dịch giả: Lesoi, PhuocLoc, Letung73, thachmoc. Hiệu đính: Kimcuong


    Chương 11: Bản lĩnh luận mệnh của các mệnh sư mù


    Mệnh nam:

    Tài Tài Nhật Thương
    Đinh Bính Nhâm Ất
    Hợi Ngọ Thân Tỵ

    6 tuổi vào vận:

    Thương Thực Kiếp Tỷ Ấn Kiêu
    Ất Giáp Quý Nhâm Tân Canh
    Tỵ Thìn Mão Dần Sửu Tý

    Đây là bút ký mà Tống Anh Thành tiên sinh ghi lại cách luận mệnh của mệnh sư khiếm thị Trịnh Thanh Đức, toàn văn như sau:

    Dụng thần đầu tiên lấy Kiếp Ấn sinh trợ, ngày giờ như chỉ bàn tay mà cùng quý vậy.

    Bản mệnh thiên can tuy lộ ra Thiên Tài, mà thiên chính cùng được lộc ở Tỵ Ngọ, ứng với số có 2 vợ. Nhưng Thiên Tài Bính hỏa tọa ở ngôi Tỵ Lộc lại hình hợp với cung vợ Thân chi ngày, nên nhân duyên mong manh ngắn ngủi mà thôi.

    Vận Nhâm Dần gặp lưu niên Ất Sửu 39 tuổi, tài đến rồi tài lại đi. Đinh Nhâm hợp, Nhâm thủy khắc Bính hỏa Thiên Tài, sở dĩ có vận Đào hoa cùng Dần là Dịch mã do vậy mà chuyện phiêu lưu tình ái liên tiếp không ngừng. Vả lại mệnh cung ở Tỵ do đó tính phong lưu từ khi sinh ra đều đã như vậy rồi. Vận Dần xung Thân, Dần Tỵ hình, tam hình gặp xung, Dần là đất sinh của Thiên Tài Bính hỏa, lại cùng thê cung xung, lúc này tình cảm với vợ con không hòa thuận mà càng háo sắc với người khác.

    Chú thích: Thời điểm này là ngày mồng 2 tháng 8 năm Ất Sửu, vợ ông ta ra mặt đại diện mà bản thân ông ta không tới vì lúc này ông ấy đang ở cùng với nữ thư ký, tuổi tác của họ cách nhau 18 tuổi.

    Bốc Văn giải bình: Tứ trụ này phong lưu háo sắc nguyên nhân căn bản cũng là 3 lý do mà trong thiên trên có giảng giải 3 lý do sau đây: có Thương Quan sinh Tài, Chính Thiên Tài hỗn tạp, Thiên Tài sát thân, thân cường kiện vượng. Trong nguyên văn nói: Đinh Lộc tại Ngọ, Bính Lộc tại Tỵ, tựa hồ Chính Thiên Tài tương đương, dường như Chính Thiên Tài tương xứng. Tác giả không xem như vậy, mà xem lực vượng suy mấu chốt là nằm ở địa chi, Chính Tài Đinh hỏa tọa Hợi là nhược, Thiên Tài Bính hỏa tọa Ngọ là vượng, lực Chính Tài đâu có thể giống Thiên Tài đối kháng nhau chứ? Cho nên hội thiếp mà đoạt quyền thê, mệnh chủ tất nhiên sẽ bỏ thê tử của mình mà ngang nhiên ở cùng với nhân tình.

    Hành Nhâm vận, Đinh Nhâm hợp, hợp khứ Đinh hỏa Chính Tài [Đinh hỏa nhược nên có thể hợp khứ], mà Dần Thực Thần tọa Trường sinh tại Bính hỏa, xung nhập cung thê, mệnh chủ sao có thể chống đỡ nổi thế cường công của Thiên Tài, tất nhiên bỏ thê mà trợ thiếp. Đương nhiên mệnh này ở cùng với người nữ khác tuyệt không phải mới có ở năm Ất Sửu, có thể truy ngược lại về đại vận Quý Mão, thậm chí trước khi kết hôn đã sớm có xảy ra quan hệ cùng nhiều phụ nữ khác, chỉ là điểm này không có cách nào chứng thực được thôi.

    Trịnh tiên sinh phán đoán việc hắn có quan hệ với nữ thư ký chỉ có thể là hạt sương phu thê, tôi xem thì không hẳn, mệnh này tại vận Dần cùng với thê tử ly hôn là chuyện đương nhiên, về phần có thể cùng nữ thư ký kết hợp hay không thì có hai thuyết dưới đây:

    Đinh Nhâm hợp khứ Chính Tài, Dần Ngọ củng hỏa cục mà khắc nhập, xung nhập thê cung, thê vị bị xung phá, thê tử đâu còn có thể giữ được? Cho nên không phân ly là không thể, bởi vì Tỵ Thân hợp, có Thiên Tài hợp nhập thê vị, vì vậy mới có thể tái hôn cùng với nữ thư ký, nhưng bởi vì Tỵ hỏa Thiên Tài là Kỵ thần, lại trong hợp có hình, cho nên suy cho cùng dù tái hôn cũng sẽ không lâu dài, hoặc dứt khoát không làm các thủ tục không cần thiết ấy, thì việc chia tay cũng dễ dàng.

    Chúng ta lại xem mệnh vợ của ông ta, biểu hiện càng thêm rõ ràng.

    Mệnh nữ:

    Tỷ Thương Nhật Sát
    Kỷ Canh Kỷ Ất
    Sửu Ngọ Tỵ Sửu

    10 tuổi vào vận:

    Thực Tài Tài Quan
    Tân Nhâm Quý Giáp
    Mùi Thân Dậu Tuất

    Thiên can Ất trụ giờ Sát tinh vô căn, lại vô nguyên thần, đi vào tây phương là đất kim, phu tinh vô nơi nương tựa, chỉ là dựa vào đại vận thủy Nhâm Quý sinh trợ mới miễn cưỡng duy trì được hôn nhân. Ất Canh hợp, Thương Quan hợp Sát, nhưng bản thân Sát vô căn, hợp tất khử, cho nên chồng không chết cũng phân ly.

    Theo lý thuyết, phu tinh nhất vị là quý, nên tốt với mình mới phải, nhưng tứ trụ này Tỷ Kiên quá nhiều. Sách viết: "Tỷ muội tranh phu, chính là người đàn bà làm vợ kế vậy", mà còn Sát tinh đóng dưới Tỷ Kiên, ý là dưới ngôi chồng còn có người đàn bà khác. Xấu hơn nữa là tứ trụ này Dụng thần nằm ở Thương Quan, không tại Thất Sát, do vậy càng không có khả năng giữ tốt quan hệ với chồng.

    Hành vận Quý Dậu, Tỵ Dậu Sửu hợp kim cục, cung chồng hợp thành Thực Thần khắc phu tinh Thất Sát, vậy trong gia đình nào có thể giữ được người đàn ông của mình đây? Năm Ất Sửu phục ngâm trụ giờ, nguyên do của việc khổ sở vì người chồng. Ly dị đương nhiên xảy ra vào năm Đinh Mão là do xuất hiện việc ứng kỳ bị khắc, nhược bằng năm này không ly hôn thì chồng có u buồn về tính mạng, có ví dụ chứng minh:

    Mệnh nữ:

    Quan Kiêu Nhật Tỷ
    Giáp Đinh Kỷ Kỷ
    Ngọ Sửu Tỵ Tỵ

    Đại vận:

    Ấn Sát Quan Tài Tài Thực Thương
    Bính Ất Giáp Quý Nhâm Tân Canh
    Tý Hợi Tuất Dậu Thân Mùi Ngọ

    Giáp mộc là phu tinh, vô nguyên thần, tự tọa Tử địa, chồng tất chết sớm, hành Nhâm Thân vận, phu tinh tọa Tuyệt địa, tượng chồng chết ở vận này. Năm Mậu Dần phu tinh xuất hiện, gặp Thân kim xung khắc, chồng mắc bệnh qua đời.

    Mệnh nữ:

    Tài Thực Nhật Kiếp
    Nhâm Tân Mậu Kỷ
    Dần Hợi Thìn Mùi

    Đại vận:

    Thực Kiếp Tỷ Ấn
    Canh Kỷ Mậu Đinh
    Tuất Dậu Thân Mùi

    Tứ trụ này Dần mộc là phu tinh, hành vận Mậu Thân, Thương Quan đắc địa, vận này khắc phu rất nặng. Năm Giáp Tuất phu tinh hư thấu bị khắc hợp lưỡng thương, chồng bị tai nạn xe cộ mà chết. Năm Mậu Dần phu tinh xuất hiện bị Thân kim xung khắc, lấy chồng lần hai cũng ly dị, bởi vì Dần Hợi tương hợp, Thân Mùi xung phá Dần, cho nên không chết.

    Trở lại nguyên mệnh: Tái kết hợp mệnh chồng mà xem, năm Đinh Mão cũng có thông tin ly dị. Thê cung Thân kim bị đại vận Dần phá, theo quy luật ứng kỳ "phá thì nên được gặp hợp", năm Đinh Mão, Mão Thân tương hợp, hợp phá là thời gian ứng nghiệm của sự việc, thái tuế thấu Đinh hỏa, Chính Tài bị Nhâm thủy hợp khứ, Nhâm thủy hợp khứ bát tự Đinh hỏa đây là thời gian ứng nghiệm.

    Bằng hữu hiểu lục hào nói chung đều biết, ứng kỳ của lục hào là: "Động thì nên gặp hợp, tĩnh thì nên gặp xung, hợp cần xung khai, xung đợi hợp đảm nhiệm được...". Thực tế Dịch trong trời đất là tương thông, ứng kỳ của bát tự cũng là như vậy thôi, đọc giả có thể ngộ được những yếu quyết trong đó thì có thể trở thành cao nhân.

    Trong sách lại nói: Nữ nhân này đại vận Nhâm Thân, lưu niên Bính Thìn kết hôn, lý ứng tại vận Quý có con nhưng bản tạo này hậu quả bị thương trước khi sinh 2 con gái, tại vận Quý tự gây nghiệp chướng nạo phá thai mấy lần, lại nói đây là "Thực Thần nhập Mộ khố, có con thì khó đăng khoa". Còn nói là “Phùng mộ kị yêu” 1 , cho nên Tỵ Dậu Sửu kỵ gặp hợp Mộ khố. Thực tế mệnh này không có con nguyên do không phải là như vậy, mà nói anh ta "khó đăng khoa" thành nói rằng "khó sinh con" rõ ràng là râu ông nọ cắm cằm bà kia. Mở sách Uyên Hải Tử Bình chương Tứ Ngôn Độc bộ có thơ viết: "Thương Quan kiến Tài, tử cung hữu tử, Thương Quan vô Tài, tử cung hữu tử"2. Tứ trụ này mệnh cục có Thương Quan không thấy Tài tinh, là điển hình của mệnh không con, sợ rằng bào thai mà bà ấy phá rất khó nói là con mình.

    ----------------------------------------------------------

    1Phùng Mộ kỵ yêu: "Yêu" là yêu cầu, thỉnh mời đến, ý nói rằng gặp Mộ thì kỵ dẫn động, như Giáp mộ ở Mùi kỵ gặp Tị Ngọ Mùi. Tam hội Tị Ngọ Mùi là hỏa cục sẽ khiến Giáp động, tức mộc bị nhập vào Mộ (nhà thương, nhà tù, phần mộ..v.v...)

    2Thương Quan kiến Tài, tử cung hữu tử, Thương Quan vô Tài, tử cung hữu tử: Thương Quan gặp Tài tinh thì có con, Thương Quan không có Tài tinh là mệnh không có con. Nguyên cục không có Tài tinh, đến vận Tài có thể sinh con.
    Phản bổn quy chân


  2. #2
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,491
    Chương 12: Điểm mấu chốt nằm ở chỗ nào?

    Mệnh nam:

    Thực Tỷ Nhật Tài
    Giáp Nhâm Nhâm Bính
    Tuất Thân Ngọ Ngọ

    1 tuổi vào vận:

    Kiếp Thực Thương Tài Tài Sát
    Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu
    Dậu Tuất Hợi Tý Sửu Dần

    Cách cục và Hỷ Dụng thần của mệnh này trước tiên chúng ta chưa luận, chỉ hỏi tại năm 56 tuổi năm Kỷ Tỵ có sự cố đặc biệt phát sinh không?

    Tống tiên sinh phân tích rằng:

    - Thứ nhất, đại vận Mậu Dần thiên khắc địa xung với nguyệt trụ Nhâm Thân, cung phụ mẫu bị hao tổn.

    - Thứ hai, gặp lưu niên Kỷ Tỵ, trong địa chi Tỵ tàng Bính hỏa làm Thiên Tài là cha, Dần Tỵ Thân tam hình gặp xung, Thiên Tài đã bị hình xung mà Bính hỏa tọa Trường sinh tại Dần, Dần Thân xung, kim mạnh thì mộc bại, thì chính là Dần bại, Thiên Tài đại biểu cho cha bị xung khứ.

    - Thứ ba, can giờ Bính hỏa, Thiên Tài là cha, nguyên mệnh địa chi và đại vận thành Dần Ngọ Tuất tam hợp hỏa cục, Bính hỏa bị dẫn động nhập Mộ, cũng là gặp Mộ kỵ gặp nhau, bởi vậy năm Kỷ Tỵ thì cha qua đời. Lúc cha qua đời trên thì có nôn ra máu, dưới cũng tiết ra máu, điều này từ trong bát tự cũng có thể xem ra, sự thật cũng là như thế, điểm then chốt nằm ở chỗ nào? Nhường các vị độc giả suy xét xem sao.

    Bốc Văn giải bình: Người viết bài cho rằng 3 điểm mà Tống tiên sinh bình giải đều đáng tranh luận, lý do như sau:

    Thứ nhất: Khi mỗi người ở tuổi 56 đều gặp phải thiên khắc địa xung với nguyệt lệnh, lẽ nào cha của mọi người đều vào giai đoạn này thì đều chết sao?

    Thứ nhì: Năm Kỷ Tỵ, Dần Thân hình xung đến Thiên Tài thái tuế, trong mệnh Thiên Tài rất vượng, hình Thiên Tài là sẽ chết cha? Lý do chưa thuyết phục, vả lại ở vận Dần, Thân và Dần xung, rút cuộc ai thắng ai bại? Dần Ngọ Tuất hợp hỏa cục, Thân bị khắc, bảo Thân kim trọng khắc gặp xung, chung quanh lại không sinh trợ Kim [chú thích: Tuất thổ làm táo thổ, lại thành hỏa cục sẽ không sinh kim], Kim sẽ không thắng. Đương nhiên Dần mộc cũng không có sinh, Nhâm thủy trong trụ bị đại vận Mậu thổ khắc mất rồi, người viết cho rằng: Xung này là lưỡng bại, Dần với Thân đều đã bị thương nặng.

    Thứ 3: Tống tiên sinh thường dùng thuyết "Phùng Mộ kỵ yêu", nhưng tôi cho rằng không thể thành lập. Lý do là Dần Ngọ Tuất hợp hỏa cục là hỏa vượng, làm sao vượng Hỏa có thể gặp nhập mộ đây? Theo lý luận này, cục tam hợp mà có trở thành hợp tử vong thật đáng sợ, điều này hiển nhiên chân đứng mà không nổi.

    Người viết xin cung cấp một dòng suy nghĩ của mình: Xem tử vong cần hiểu rõ ngũ hành nào là sinh, ngũ hành nào là chết. Lấy bản mệnh phu tinh Thiên Tài Bính hỏa mà nói, sự sinh tồn của hỏa cũng dựa vào sự cháy của mộc, hỏa tử vong thường thường vì mộc tận diệt mà chết, cho nên đa số tình huống hỏa tử vào thời khắc nó tối vượng, hỏa vượng vô chế thiêu đốt mộc mà tự chết, pháp lý của ngũ hành mệnh lý thông với pháp lý của ngũ hành tự nhiên. So sánh bản mệnh, vào vận Mậu Dần, Dần Ngọ Tuất thành hỏa cục, Mậu thổ khắc Nhâm thủy [Trường sinh của thủy ở Thân kim, Thân kim bị Dần xung phá hư, cho nên Nhâm thủy bị khắc chế], đạo lý là hỏa vượng vô chế mà nguyên thần của hỏa Dần mộc cũng bị xung phá hư, vậy hỏa không thể sống. Năm Kỷ Tỵ, Giáp Kỷ hợp, Giáp mộc lại hợp khứ can năm mà Tỵ lại là nơi hỏa vượng, cho nên hỏa tất tử, khi bố của anh ta chết thì trên thổ huyết, dưới cũng tiết ra máu, cũng vì nguyên cớ hỏa quá vượng, bởi vì hỏa là tim và huyết quản, quá vượng thì tất phá tung, máu huyết tất cuồng dật.

    Có một ví dụ so sánh để nghiên cứu:

    Nhân vật đời Dân quốc Lương Khải Siêu:

    Nam mệnh:

    Quan Kiêu Nhật Quan
    Quý Giáp Bính Quý
    Dậu Dần Ngọ Tỵ

    Vào vận Mậu Thân, lưu niên Kỷ Tỵ, trọng bệnh mà qua đời. Mậu thổ hợp khứ Quý thủy, Thân kim xung phá Dần mộc, hỏa vượng mộc cháy, đã ứng chết vào năm Kỷ Tỵ.

    Phép xem tử vong của ngũ hành khác, xin xem thêm tài liệu 《 Nhân Mệnh Tử Vong Tin Tức Thám Bí 》
    Phản bổn quy chân

  3. Cảm ơn bởi:


  4. #3
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,491
    Chương 13: Mệnh lý xem về mua sắm nhà cửa

    Mệnh nam:

    Ấn Tài Nhật Tỷ
    Nhâm Mậu Ất Ất
    Thìn Thân Mão Dậu


    Đại vận từ 32 tuổi:

    Ấn - Nhâm Tý

    Lưu niên 37 tuổi Mậu Thìn mua nhà, 38 tuổi Kỷ Tỵ dọn vào nhà mới.

    Vận Nhâm Tý, lưu niên Mậu Thìn anh ta mua nhà, tiền mua nhà được sự trợ giúp từ bạn bè và tiền bỏ thầu mà có được, ngôi nhà này ngoài vợ ra còn có mẹ và em trai cùng ở.

    Tống tiên sinh phân tích: Đây là căn nhà mua năm lưu niên Ấn vận với Tài tinh, Ấn tinh là vận Kỵ thần của tứ trụ này. Ấn tinh cũng là một loại quý nhân, cho nên sẽ có người giúp hắn trù liệu. Tuế vận mệnh hình thành tam hợp Thân Tý Thìn, chẳng những là Ấn tinh mà còn trong Thìn có tàng Ất mộc Tỷ Kiên, bởi vậy mẹ đại biểu là Ấn tinh cùng em trai đại diện Tỷ Kiên cùng ở. Địa thế của ngôi nhà này đảm nhiệm cung vị trạch là Mão, thuộc ngoại ô.

    Trong tượng của mệnh này có một phát hiện rất thú vị, chính là mẹ ở với anh ta được nửa tháng, sau đó một người em ở Đài Trung đến ở nửa tháng, nguyên do trong cung phụ mẫu có tàng Nhâm thủy Ấn tinh cùng với Thìn chi năm thành Thân Thìn củng hợp. Địa chi ngày là Mão và Thân lại ám hợp, cho nên hình thành tượng mẫu thân ở đây được nửa tháng, ngoài ra huynh đệ ở cũng nửa tháng.

    Bình chú: Tại đại vận, lưu niên, bát tự Thân Tý Thìn hợp thành Ấn cục, đem Tài tinh Thái tuế hợp nhập, Tài biến thành Ấn, tức biểu thị đem tiền chuyển hóa thành nhà cửa, cho nên năm này mua nhà.

    Mệnh nam:

    Tỷ Thương Nhật Tỷ
    Tân Nhâm Tân Tân
    Mão Thìn Tỵ Mão

    Đại vận:

    22 Kiêu – Kỷ Sửu
    32 Ấn – Mậu Tý

    Kỷ Mùi 29 tuổi mua nhà, Giáp Tý 34 tuổi dọn đi

    Người này mua nhà trong lưu niên Kỷ Mùi 29 tuổi và đại vận Kỷ Sửu đều là tuế vận Thiên Ấn. Vận Mậu Tý, năm Giáp Tý 34 tuổi lại bán hết và chuyển đi vừa được 6 năm.

    Bình chú: Mão Mùi bán hợp cục, nhưng có 2 trung thần Mão nên cục bất thành, Thiên Tài Mão mộc nhập tuế Mộ, biểu thị đem tiền biến thành nhà cửa. Năm Giáp Tý, Giáp khắc đại vận Mậu, tức Tài thấu khắc Ấn, khắc mất nhà cửa, Tý và Thìn bán hợp thủy cục, Ấn tinh Thìn thổ chuyển hóa làm Thực Thần, Thực Thần sinh Tài, lại đem nhà cửa chuyển hóa thành tiền.

    Mệnh nam:

    Tài Quan Nhật Tỷ
    Nhâm Ất Mậu Mậu
    Thìn Tỵ Dần Ngọ

    Đại vận 32 – Kiếp Kỷ Dậu

    33 tuổi năm Giáp Tý mua nhà, 37 tuổi năm Mậu Thìn mua đất

    Tống tiên sinh phân tích cho rằng: Bổn tạo này 33 tuổi năm Giáp Tý mua nhà, khi mua tương đối vất vả bởi vì Giáp Tý lưu niên xung Dương Nhận Kiếp Tài trong trụ giờ Mậu Ngọ. Tuy nhiên, địa chi Tý lưu niên với địa chi Thìn trụ năm thành Tý Thìn hợp, chi vận Dậu kim cũng hợp với Thìn mà tăng thêm khí thế của thủy đến xung Kiếp Tài. Kiếp Tài Ngọ chẳng những bị dẫn động, mà còn bị áp chế, Ngọ Dương Nhận sẽ gắng sức giả trang vai Kiếp Tài, mà mua bán thì tất phải trả tiền, nhưng việc chi trả rất là mệt mỏi.

    Bình chú: Năm Giáp Tý, Tý Thìn bán hội thủy cục, vận nhập đất kim thủy cục có thể thành, là ý trù liệu tiền bạc. Tý Ngọ xung, xung động Ấn tinh Ngọ hỏa, là việc trù liệu nhà cửa. Tứ trụ này hỏa là Kỵ thần, xung động Kỵ thần đương nhiên không tốt, cho nên mua nhà rất hao tổn, nếu không phải hành vận Dậu, Dậu và nguyệt lệnh Ấn Tỵ hợp kim cục [Bính Tân tàng ám hợp], thì Ấn tinh có thể chuyển hóa làm Hỷ thần, sợ rằng rất khó mua được nhà cửa. [Bởi vì trong nguyên cục Dần Tỵ hình, Ấn tinh Tỵ hỏa bị hình động hình phá, không thể xây nhà cửa mình, cho nên rất cần hợp để chuyển hóa mới được]. Như ví dụ sau:

    Mệnh nữ:

    Tài Kiếp Nhật Kiêu
    Ất Canh Tân Kỷ
    Mão Thìn Tỵ Sửu

    Tứ trụ này Ấn làm Kỵ thần, Tài làm Hỷ thần. Năm Kỷ Mão, Tài tinh khắc Ấn, mua nhà, bởi vì Tài ở năm, là nhà mà dùng tiền của bố mẹ mua.

    Tổng luận: Từ trong mệnh xem về nhà cửa từ trước đến nay chưa có phương pháp cố định. Trước đây nơi mà công nhân viên chức của Đại lục ở thì đều là nhà cửa nhà nước, chưa bao giờ nói đến mua nhà, mà đa số nông dân khi xây nhà đều trên cơ sở được sự chấp thuận của chính quyền, rất ít người có tiền mua nhà. Cho nên xem về nhà cửa nên căn cứ vào các tình huống khác nhau mà linh hoạt phán xét. Nói chung, lấy Ấn thụ niên nguyệt địa chi, Tài tinh để xem nhà cửa, Tài của ngày giờ và Ấn là tượng nhà thuê, không làm của cá nhân. Chính Tài là nhà cửa ông bà tổ tiên ở, Thiên Tài có thể là phòng của mình đi mua. Đồng thời nhất định phải kết hợp Hỷ Dụng thần, Ấn thái vượng làm Kỵ thần, bị Tài tinh chế phục có thể chủ mua nhà; Tài tinh quá vượng là Kỵ thần được Ấn tinh xung khử Tài tinh hoặc phù trợ nhật nguyên thì có thể mua nhà.

    Có khi Tỷ Kiên Lộc thần cũng có thể là nhà cửa, bởi vì Lộc tượng trưng cho đất quy thuộc nhật chủ; còn có một tình huống là khi Ấn tinh làm Dụng thần, bất kể lục thân ra sao cũng có thể xem tượng là nhà cửa, học giả có thể theo những tình huống khác nhau mà linh hoạt suy đoán, không thể khăng khăng theo một phương pháp cố định.
    Phản bổn quy chân

  5. Cảm ơn bởi:


  6. #4
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Jul 2013
    Bài viết
    224
    cảm ơn bạn nhiều lắm,mong bạn đăng lên hết cuon sách để ae được học hỏi

  7. #5
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,491
    Các bạn cứ bình tâm ngâm cứu, dần dần tôi sẽ post tiếp lên cho các bạn xem. Cuốn này được Đoàn tiên sinh bình chú trước khi gia nhập Manh phái, có nhiều điểm vẫn bổ ích với chúng ta.
    Phản bổn quy chân

  8. Cảm ơn bởi:


  9. #6
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    5,268
    Nhưng các bạn lưu ý phần luận Lục Thân, tôi thấy có vẻ như không phải đúng như nguyên lý âm dương ngũ hành. Giống như họ Nhậm luận trong Trích Thiên Tủy vậy, các bạn chỉ nên tham khảo và tự giải cho bản thân mình trước. Tôi đã dùng rất nhiều pháp luận nhưng thật sự tỷ lệ xác suất khi ứng dụng có phần miễn cưỡng, nên cẩn trọng khi dùng. Trước đây bạn ngocvan có nói đến quyển sách này, nhưng khi tôi tham gia dịch thuật, đã áp dụng nhưng xác suất không cao. Vì vậy tôi không đưa ra ngoài, sợ các bạn đi càng ngày càng chệch hướng. Đặc biệt là những câu Đoán ngữ, rất dễ lầm khi ứng dụng.
    Có khi tôi làm mất hứng Thachmoc, mong bạn thông cảm. Nhưng chắc có lẽ từ đây về sau chúng ta cũng phải cần thận trọng hơn khi dùng các loại sách mệnh lý cũng như phong thủy, biết dùng nhưng không giải thích được. Vì thế, nên lấy gốc chớ nên lấy ngọn, từ từ chúng ta sẽ gạn lọc lại để người học sau đi dần đến đích thì hay hơn.

    Nếu các bạn say mê Manh phái họ Đoàn, nếu cần các bạn cứ để địa chỉ E Mail lại đây, tôi sẽ chuyển tài liệu tiếng hoa (bản word) để dịch mà học. Nhưng tôi đã xem qua rồi, đặc biệt là hai quyển gối đầu của họ Đoàn dạy để tử là Mệnh lý Trân Bảo và mệnh lý Côi bảo. Trong đó họ Đoàn nói các thuật ngữ của Manh phải họ Đoàn, đọc xong thì dễ hiểu hơn là học cái ngọn. Kể cả học trò của Hạ tiên sinh (sách Mệnh thuật Dật Văn), nhưng cũng chỉ là học theo mà không giải thích được vì sao?...
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  10. Cảm ơn bởi:


  11. #7
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Jul 2013
    Bài viết
    224
    bạn le soi nói phải cuốn: mệnh lý chân quyết kg? nếu bạn đã dịch 2 cuốn sách của Đoàn kiến nghiệp cho tôi xin, bạn đưa sách tiếng Hoa tôi bo tay

  12. #8
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,491
    @ngocvan: 2 cuốn anh Lesoi vừa nhắc tới là Mệnh lý Trân bảo và Mệnh lý Côi bảo của Đoàn Kiến Nghiệp viết sau khi gia nhập Manh phái. Sách này đã được dịch và đăng tại diễn đàn khác.

    @Lesoi: Em vẫn cho rằng đây là cuốn sách đáng để tham khảo. Em sẽ đăng tiếp một số chương khác để mọi người cùng nhận xét. Và nếu anh đã nghiệm lý mà thấy có những điểm sách này không phù hợp, anh cứ nêu ra để bọn em học hỏi nhé.
    Phản bổn quy chân

  13. #9
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,491
    Chương 14: Mọi vấn đề đều có cách giải quyết (Cùng đường tắc biến, biến tắc thông)

    Mệnh nam:

    Tỷ Tỷ Nhật Thương
    Quý Quý Quý Giáp
    Tỵ Hợi Mùi Dần

    7 tuổi vào vận:

    Kiếp Kiêu Ấn Sát Quan Tài
    Nhâm Tân Canh Kỷ Mậu Đinh
    Tuất Dậu Thân Mùi Ngọ Tỵ

    Nguyên văn: Người này sinh ở nam bộ, học cấp 3 thì chuyển đến bắc bộ, sau đó lại chuyển đến Trung bộ. Sau khi lấy bằng kĩ sư thì thi vào công ty thuyền Cao Hùng làm việc, vì cá tính của mình không hợp mà từ chức, lại chuyển về phục vụ công ty cơ giới nào đó ở trung bộ. Ở công ty này thu được lợi ích rất nhiều. Năm 26 tuổi Mậu Ngọ kết hôn, năm 27 tuổi Kỷ Mùi vì vợ con mà mua nhà, cũng cùng năm đó có hỷ sự là vợ sinh con gái.

    Bởi vì mệnh tạo này niên nguyệt Tỵ Hợi xung, trong địa chi Tỵ tàng Bính hỏa Tài tinh bị xung mất, cho nên tuổi thơ gia cảnh bần hàn, chi phí đi học đều dựa vào tiền thưởng trong học tập có được cùng huynh trưởng cung cấp, bởi vì Tỵ Hợi xung nên từng thôi học một năm.

    27 tuổi lưu niên Kỷ Mùi bắt đầu hành vận Canh Thân là vận Kỵ thần, phương diện nghề nghiệp mặc dù buôn bán lời một ít tiền, nhưng kết quả thì bị sập tiệm. Năm 26 tuổi Mậu Ngọ được sự cổ vũ của vợ con mà tự mình gây dựng sự nghiệp, tuy công việc rất cực nhọc nhưng lại thu được thành quả rất lớn.

    Năm 31 tuổi Quý Hợi, lưu niên và nguyên mệnh Tỵ Hợi xung, đại vận Canh Thân và trụ giờ Giáp Dần phản ngâm, mấy năm lại đây vất vả tiền bạc buôn bán, co thể nói bị sập tiệm toàn bộ là do ngũ hành ở dưới xung kích, liền các năm Giáp Tý, Ất Sửu, Hợi Tý Sửu hội thủy cục mà kinh doanh buôn bán lỗ vốn.

    Hai năm Bính Dần, Đinh Mão vừa tạm hài long. Đến năm Mậu Thìn bởi vì người này hiểu sơ âm dương ngũ hành, biết năm Mậu Thìn tài vận không tốt, rất cẩn thận nên mới không dẫm vào vết xe đổ trước.

    Năm 37 tuổi Kỷ Tỵ, mệnh, vận, lưu niên Dần Tỵ Thân tam hình, lại Tỵ Hợi xung, rất nhiều chuyện đều không tâm đầu ý hợp.

    Khi tuổi thơ chưa vào đại vận, ngực từng bị thương do nghịch ngợm mà bị bỏng vì than quả cầu, sau khi tốt nghiệp kĩ sư bởi vì công tác không thận trọng nên ngón tay phải bị thương. Thê cung tinh làm Hỷ Dụng nên được vợ hiền lương. Thê tử trợ lực rất lớn, bởi vì thê cung kèm theo Tài, gây dựng sự nghiệp, tài lực đều dựa vào sự lo liệu của vợ mà ra.

    Hiểu biết ứng dụng thêm: Niên nguyệt Tỵ Hợi xung làm Dịch Mã xung. Nhật chi Mùi và nguyệt chi Hợi, Hợi Mão Mùi có Mã tại Tỵ, là tượng Dịch mã 2 đầu xung động, lực của Dịch mã rất nặng, cho nên thời kỳ thanh thiếu niên thuộc trụ năm và tháng rất thăng trầm. Đây là phương pháp xem Dịch mã xung.

    Địa chi Tỵ trụ năm có tàng Bính hỏa Tài tinh, là bạn gái trước hôn nhân, Tỵ Hợi xung điều này cho biết yêu đương trước hôn nhân, khi nói đến hôn sự thì đều gặp vào biến quái. Chi năm là cung vị tổ tiên, trong niên chi Tỵ có tàng Bính hỏa Chính Tài, Mậu thổ Chính Quan, Canh kim Chính Ấn, là chính Tam Kỳ, chứng tỏ ông cha của người này vẻ vang một thời, đáng tiếc bởi vì Tỵ Hợi xung mà suy vong.

    Trong lục thân cha là Tài tinh, Tỵ Hợi xung, Canh kim trong Tỵ bị ảnh hưởng, tình huống này có thể nói cha chú của người này có xảy ra sự cố đặc biệt. Như ông cha huynh đệ của mệnh này có người yểu mệnh hoặc làm con thừa tự cho người khác. Niên nguyệt có 2 Quý thủy phục ngâm, ông nội và cha có tượng 2 vợ. Bát tự này Quý thủy nhiều như vậy mà chi năm lại tọa Tỵ, chẳng khác nào Quý thủy đến khắc Bính hỏa, cho nên thời thơ ấu có tai nạn thủy hỏa, điều này đều là điểm tốt cho sự hiểu biết thêm. Nhưng phải hợp với đạo lý.

    Năm 31 tuổi Quý Hợi xung thẳng đến Chính Quan trong Tỵ mà lúc này đại vận Dần Thân xung, Thương Quan Giáp mộc lộ ra thiên can, lại Dần Tỵ hình, cho nên năm này e rằng có hiện tượng tổn hại đến con cái hoặc đẻ non. Thiên can Quý thủy phục ngâm chẳng những có thể luận ông cha có 2 vợ, nếu như luận thêm thần sát, Tỷ Kiên Quý thủy tọa Dịch Mã có thể luận anh chị em gái của mệnh này cư trú ở xa, điều này còn nhất định cần phối hợp Dịch mã tương xung mới có thể luận đoán như vậy. Về phương diện học hành, bởi vì thời can lộ ra Giáp mộc Thương Quan, Thương Quan thuộc thiên văn tinh, bởi vậy không có khả năng học các trường đại học chuyên khoa chính thống, mà chỉ là chức hiệu trong phương diện ngành nghề kỹ thuật. Tỵ Hợi xung, trong Hợi tàng Giáp mộc Thương Quan bị Canh kim trong Tỵ xung khắc, văn tinh gặp trở ngại biểu thị cho quá trình học ở trường không thuận lợi hoặc ngắt quãng, điều này nhanh chóng ứng nghiệm nhất định phải ở giai đoạn thanh thiếu niên đi học tập thuộc trụ năm tháng mới có thể áp dụng.

    Năm 31 tuổi Quý Hợi lại có huyền cơ ẩn dấu, bởi vì trong niên chi Tỵ có tàng Canh kim Chính Ấn xung mất Thương Quan Giáp mộc trong Hợi. Thương Quan có chức năng sinh Tài mà Thương Quan cũng là nguyên thần của Tài tinh, chẳng khác nào cắt đứt động lực của nguyên thần sinh Tài, lại còn Tỷ Kiên Quý thủy của năm Quý Hợi xuất hiện kết thúc mọi chuyện. Bởi vậy lúc đại vận Canh Thân và thời trụ Giáp Dần phản ngâm cũng là xung vào cung tử tức. Quý Hợi tuy không có sao tử tức, thế nhưng Tỵ Hợi xung, Dần Hợi hợp, Quý thủy lại sinh Giáp mộc Thương Quan, cho nên năm này vợ có hiện tượng sẩy thai. Đây là dẫn động của lưu niên, Kiếp Tài Nhâm thủy trong Hợi cũng bị giao động, cho nên sẽ bị người đoạt tiền. Mà Hợi cũng là Dịch mã của Tỵ, cho nên năm này tương đối bôn ba là điều khó tránh khỏi.

    Nguyệt chi, nhật chi Hợi Mùi hợp, bởi vì Mùi có tàng Thiên Tài, lại là thê cung, có thể luận vợ của người này lúc chưa cưới đã giao một số tiền kiếm được cho song thân, đây là phần hiếu thuận.

    Đại vận Kỷ Mùi thì như thế nào? Mùi và thê cung phục ngâm, Kỷ là Thất Sát tinh, may là có Giáp mộc Thương Quan thấu can, Giáp Kỷ hợp. Giáp mộc Thương Quan đại biểu trí tuệ thông minh, Thương Quan bị hợp cho nên lại phán đoán sự việc cần cẩn thận. Vận Kỷ Mùi hội khắc chế Quý thủy Tỷ Kiên, Quý thủy tại nguyệt trụ là cung huynh đệ, lại là huynh đệ tinh, sẽ phát sinh việc có liên quan đến anh em. Quý thủy quy về Mùi khố lại phục ngâm, có thể trong huynh đệ sẽ có người bị thương tổn, phục ngâm đến thê cung, bên nhà mẹ đẻ của vợ cũng sẽ phát sinh một vài chuyện.

    Mệnh tạo này Hợi Mùi ám củng Mão, Mão là Văn Xương Quý nhân, là một biểu hiện quý, bởi vì ám củng dựa vào điền thực càng tốt, đây là bát tự củng quý cách.

    Bốc Văn bình giải: Đối với mệnh tạo này, nguyên văn giải thuật rất rườm rà, người viết có vài quan điểm sau. Đầu tiên với cách xem của mệnh tạo này về Dụng thần, Kỵ thần, Tống tiên sinh cho rằng vận Canh Thân là vận Kỵ thần, có thể tiên sinh cho rằng tứ trụ này Tỷ Kiếp nhiều thân vượng. Tác giả cho rằng tạo này nhật chủ trung hòa thiên về nhược, Canh Thân cũng không phải là vận kỵ thần lý do sau đây:

    Tứ trụ này Tỷ Kiên tuy nhiều lại nắm lệnh, tựa hồ vượng tướng, nhưng bởi vì thủy vô nguyên thần, sự vượng này là giả tượng, trong trụ Tỵ Hợi xung, tuy Hợi vượng phá Tỵ, nhưng Hợi cũng tổn lực; Hợi thủy lại bị Mùi thổ hút đi một phần thủy, lại củng sinh mộc nữa; trụ giờ gặp Giáp Dần là Thương Quan thiên thấu địa tàng, tiết khí nhật chủ rất mãnh liệt, sự phối hợp như vậy nhật chủ tuyệt không thể vượng, mà thiên về luận nhược.

    Bát tự thân nhược Hỷ Dụng thần nói chung là Tỷ Kiếp và Ấn thụ, nhưng đối với mệnh tạo này mà nói, Tỷ Kiếp và Ấn thụ lại không hoàn toàn là Dụng thần trọn vẹn. Quan điểm của tôi là: Khi hành Ấn vận, lưu niên mừng gặp được Tài tinh; ngược lại, khi hành Tài vận, lưu niên vô cùng hỷ Ấn tinh và Tỷ Kiếp.

    Thủ pháp của loại Dụng thần này cũng không phải là khó để lý giải, cũng chỉ là căn cứ vào các nguyên tắc cân bằng các lực trong bát tự.

    Điều kỳ lạ của mệnh tạo này nằm ở trên chi năm Tỵ hỏa, Tỵ hỏa là con tắc kè hoa, tác dụng phát ra của nó ở trong nguyên cục là hao tổn Hợi thủy, nhưng một khi trong nguyên cục gặp được Dậu, do bởi vì hợp hóa Kim cục mà dẫn đến tác dụng sinh trợ, gặp được Thân cũng như vậy, bởi vì Tỵ Thân tương hợp mà biến dạng, không hề hao tổn Hợi thủy, ngược lại có thể sinh trợ Hợi thủy. Thương Quan ở đây cũng bị tổn thương, như vậy bát tự một bên đồng nhất thiên về nhật chủ vượng, như vậy lưu niên tự nhiên hỷ Tài tinh rồi.

    Đối chiếu với tình huống thực tế của tứ trụ này, năm Mậu Ngọ thì Dần Ngọ hợp hỏa cục, Ấn vận lưu niên Tài, kiếm được tiền. Đến năm Quý Hợi, Giáp Tý, Ất Sửu, không thấy Tài tinh, Tỷ Kiếp vượng, phá sản đóng cửa. Năm Bính Dần, Đinh Mão, gặp Thương Thực, Tài tinh, lại cát, không hề thua lỗ. Do Dần Thân xung, Mão Thân hợp, Thương Quan Thực Thần mất đi hiệu lực, cho nên cũng không hoàn toàn vươn lên. Ví dụ cùng loại như sau:

    Mệnh nữ:

    Tài Thực Nhật Tỷ
    Đinh Ất Quý Quí
    Mùi Tỵ Tỵ Hợi

    Tứ trụ này rõ ràng thân nhược, hỷ dụng Ấn thụ, khi hành đại vận Mậu Thân, bởi vì Tỵ Thân hợp, Tỵ hỏa biến chất, nhật chủ ở trong vận này trở thành vượng, mà Tài tinh thành nhược, cho nên năm Nhâm Thân công tác bất thuận lợi, năm Giáp Tuất kiếm tiền, mà năm Ất Hợi trái lại thua lỗ.
    Phản bổn quy chân

  14. Cảm ơn bởi:

    CST

  15. #10
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,491
    Chương 19: Cái chết của ngôi sao ca nhạc

    Bài này Tống tiên sinh phân tích nguyên nhân mệnh lý bị tai nạn xe và tử nạn của hai cô ca sĩ Vương Mặc Quân và Long Nhãn. Hai cô này ngày 21 tháng 11 năm Mậu Thìn giờ Ngọ cùng cưỡi xe mà xảy ra tai nạn. Cô Vương chết ngay tại chỗ, ca sĩ Long cấp cứu có hiệu quả, nhưng 3 ngày sau thì cũng theo cô Vương mà đi.

    Mệnh của cô Vương:

    Kiếp Kiêu Nhật Tài
    Giáp Quý Ất Kỷ
    Thìn Dậu Sửu Mão

    3 tuổi vào vận:

    Ấn Sát Quan
    Nhâm Tân Canh
    Thân Mùi Ngọ

    Tống tiên sinh phân tích: Bát tự này ngũ hành khuyết hỏa, nguyệt trụ Quý Dậu và thời trụ Kỷ Mão thiên khắc địa xung, Nhật can Ất mộc tuyệt tại Dậu, Mão Dậu xung, đây là tượng suy yếu dần bẩm sinh của bản mệnh. Nguyệt trụ Quý Dậu của mệnh này chính là vận hạn từ 17 tuổi đến 34 tuổi, trong giai đoạn này có biểu hiện ra số kiếp. Vùa đúng lưu niên Kỷ Tỵ [Đông chí hoán niên trụ]1, nguyên cục Tỵ Dậu Sửu tam hợp kim cục, Tử Mộ Tuyệt sợ nhất xung hợp, huống hồ địa chi tứ trụ xung hợp rất kịch liệt. Trong kết cấu sự việc như thế thì sẽ gây đổ vỡ chia ly, vừa đúng lúc trong vận hạn trụ tháng là tử kiếp gặp đại vận Canh Ngọ, Canh Nhận tại Dậu, Ngọ phá Dậu, Ngọ lại tái phối hợp với lưu niên Kỷ Tỵ khắc ứng mà chết. Trong cổ thư có một câu như sau: “Hoạt mộc kỵ chôn căn chi thiết” 2, phải chăng phù hợp với lý này chăng, xin nhường độc giả tìm hiểu.

    Bốc Văn bình giải: Việc tử vong của mệnh này đích xác có quan hệ tương xung Mão Dậu, nhưng tác giả không đồng ý với thuyết “Đông chí hoán niên trụ”, mà sở dĩ Tống tiên sinh nói Canh nhận ở Dậu, Ngọ phá Dậu, không cách nào nói rõ cô ta vì sao sẽ chết, ngược lại khiến tôi có cảm giác không thể hiểu đầu đuôi sự việc.

    Quan điểm của tác giả là vẫn xét thọ nguyên tinh. Trong trụ có Lộc, bởi vì Tỷ Kiếp không vượng, Lộc có thể xem là thọ nguyên tinh, đồng thời trụ tháng thấu Ấn hóa Sát mà sinh phù nhật nguyên, cho nên Quý thủy Ấn tinh cũng là thọ nguyên tinh, nguyên nhân cái chết của mệnh này ở chổ Quý thủy và Mão mộc đều bị thương khắc. Đi vào vận Canh Ngọ, Mão mộc ở tử địa, nhật chủ trở nên rất suy, duy chỉ dựa vào Quý thủy sinh mộc để dưỡng mệnh, bản thân Canh kim có thể sinh Quý thủy, tại sao lại tọa chi không phù trợ, còn bị nhật chủ hợp lưu, tham hợp mà quên sinh, và còn khắc hợp trụ nhật chủ, giờ can Kỷ thổ tiện thể thừa cơ khắc Quý thủy. Gặp lưu niên Mậu Thìn, Mậu Quý tương hợp, Thìn là khố thủy lại bị Dậu kim hợp, Mậu Thìn đem nguyệt trụ Quý Dậu hợp chặt, Quý thủy bị hợp khứ không thể sinh trợ Ất mộc, cho nên đại nạn ập lên đầu.

    Bởi vì đại vận Canh Ngọ, Canh kim là Bạch Hổ, tượng là đường xá [xem tài liệu của Vương Hổ Ứng Lục hào tật bệnh dự trắc tân thám]. Nạp âm của Canh Ngọ vừa là Lộ bàng thổ, lại vừa là tượng đường xá. Canh hợp khứ nhật chủ, ý là tử vong ở trên đường, cho nên là tai nạn xe cộ, Quý Ấn có tượng chính là xe, chủ bị liên đới mà bị tổn hại, Quý bị khắc không thể sinh Ất nhật chủ, cho nên xe bị phá hoại mà người bị tử vong.

    Dưới đây là mệnh của cô Long Nhãn:

    Kiếp Thương Nhật Tỷ
    Giáp Bính Ất Ất
    Thìn Dần Tỵ Dậu

    8 tuổi khởi vận:

    Tỷ Kiếp
    Ất Giáp
    Sửu Tý

    Tống tiên sinh phân tích mệnh tạo này không phải mệnh chết yểu, chỉ là đụng phá hỏng đại vận mà bị liên lụy cùng Vương Mặc Quần ngồi cùng xe mà tử vong, ngoài nhật chủ và lưu niên phục ngâm ra, hầu như không tìm ra lý do mà cô ấy chết.

    Bốc Văn bình giải: Mệnh tạo này chính xác không hẳn phải chết, nhưng có thể thuộc mệnh thọ trình này chưa đến mà phải chết yểu trước thời hạn. Nhưng cũng không phải là hoàn toàn không có nguyên nhân, tinh tế suy đoán vẫn còn có một số lý do.

    Bát tự của cô Long không có thủy, tức mộc vô nguyên thần, nguyệt lệnh Dần mộc gặp tuần không là tử mộc. Hoạt mộc như cây mạ non rất yếu, gặp Bính là nụ hoa, tử mộc thì làm củi, gặp hỏa thì làm ngọn lửa. Mệnh này Bính hỏa trường sinh ở Dần, đắc Lộc ở Tỵ, là củi khô mà cháy bừng bừng, hỏa thế xung thiên, sự duy trì của toàn bộ sinh mệnh đều dựa vào Giáp mộc can năm. Giáp mộc là Tỷ Kiếp cũng là đồng dạng, có thể tượng trưng là người hợp tác với cô Vương. Vương mệnh về trời, thì Long Nhãn mệnh cũng khó có thể tồn tại, cho nên mới nói "Bì chi bất tồn, mao tương yên phụ" 3

    Mặc dù giải thích như vậy, nhưng vận Giáp Tý, năm Mậu Thìn, chính xác năm này không tử vong, chỉ có thể nói rõ sự hợp tác của cô ấy là một sự sai lầm mà bị tử vong cùng với người khác. Rất nhiều các mệnh lý gia nghiên cứu và chỉ ra vấn đề ứng nạn tập thể, như vụ động đất lớn tại Đường Sơn đã làm chết 3 ngàn người. Lẽ nào bao nhiêu người đều ở một giờ nào đó, ngày nào đó mà thọ trình cùng tới? Vì lẽ đó mà tôi cho rằng sự ứng nạn của tập thể là một tình huống đặc thù, mệnh của một người nào đó có thể ảnh hưởng đến một người khác gần gũi với người đó, như vậy tai biến của giới tự nhiên ảnh hưởng đến vận mệnh con người thì hiển hiện dễ thấy.
    ------------------------------------------------------------------------------------

    "Đông chí hoán niên trụ" 1 : Từ tiết Đông Chí đã đổi sang năm mới, không chờ đến tiết Lập Xuân.
    “Hoạt mộc kỵ chôn căn chi thiết” 2: mộc sống kỵ chôn ở căn kim là Dậu
    "Bì chi bất tồn, mao tương yên phụ" 3: Da không còn thì lông không có chỗ mọc, ám chỉ sự vật mất đi chỗ dựa thì không thể tồn tại.
    Phản bổn quy chân

  16. Cảm ơn bởi:


 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •