Chào mừng đến với Tử Bình diệu dụng.
Trang 10 của 10 Đầu tiênĐầu tiên ... 8910
Kết quả 91 đến 94 của 94
  1. #91
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,005
    Bính Hỏa sinh vào tháng 11.
    Tháng 11 tiết Đông chí dương sinh, trong nhược sinh vượng, trước dụng Nhâm, Mậu làm phò tá.

    Bính hỏa ở tháng trọng Đông, trước Đông chí, xem giống với tháng 10, sau Đông chí, nhất dương hồi phục trở lại, trong nhược hồi phục lại cường. Khi Nhâm thủy ở tháng trọng Đông chuyên vượng, cho nên lấy Mậu thổ làm phụ tá, là lúc không phải nhật nguyên sinh vượng thì không thể được.

    Nhâm Mậu đều thấu, nhất định có khoa bảng, cho dù phong thổ bất cập, tất nhiên sẽ được tuyển chọn đề bạt, nhiều Mậu gặp Kỷ, không quá tú tài, hoặc hiển đạt bằng con đường khác biệt nào đó. Người dụng Mậu, không thể thiếu Giáp, Nhâm Mậu cần cân nhắc khi dụng. Dụng Mậu không thể thiếu Giáp, là điểm chính yếu nhất. Sau Đông chí, tuy nói rằng nhất dương hồi phục trở lại, nhưng cuối cùng vẫn thuộc khí thế rất suy nhược, Bính hỏa tuy mừng có Nhâm thủy phụ giúp thêm sức chiếu sáng, nhất định phải có Giáp mộc sinh trợ hỏa vượng, mới có thể cùng bổ sung cho nhau thì mới tốt, dụng Nhâm không thể thiểu Giáp, dụng Mậu càng không thể không có Giáp, nhật nguyên sinh vượng, mới khá dụng Thực Thần chế Sát vậy, đến mức Mậu nhiều gặp Kỷ, chế Sát thái quá, do Nhâm thủy thừa vượng, cho nên là sự thanh tú của Nho lâm. Trụ có Giáp Bính, phối hợp được thích hợp, sẽ hiển đạt bằng con đường kì lạ nào đó, nếu không thì, chế quá Thất sát , quá cẩn trọng mà cũng chỉ là bần nho mà thôi, công danh không thể đạt, thân vượng dụng Nhâm, Nhâm nhiều dụng Mậu, cần phải xem sự vượng nhược của nhật nguyên mà cân nhắc khi sử dụng vậy.


    Hoặc nhất phái Nhâm thủy, chuyên dụng Mậu thổ, người này tuy không thành danh, văn chương vượt xa nhiều người, nhưng cuộc đời danh lợi hư phù, vì sao vậy? Bời Mậu làm mờ ánh sáng của hỏa, cần phải có Giáp mộc làm thuốc vậy, hoặc thủy nhiều không có Mậu, hỏa nhiều không có Nhâm, phối hợp không được trung hòa, hạ cách
    .

    Hỏa ở tháng 11 thất lệnh, gặp một bầy Nhâm thủy, không thể không dụng Mậu thổ, nhưng Mậu thộ lại trợ giúp ánh sáng của Bính Nhâm, Bính hỏa lại yếu ớt vô khí, tuy tài năng xuất chúng, cũng chỉ là danh lợi hư phù (
    Sát vượng có chế, cho nên có tài năng) được Giáp mốc thì trở thành cứu trợ, chính là danh lợi lưỡng toàn.
    Tóm lại: Nhật nguyên suy nhược, dụng Tài Sát hoặc dụng Thực thần chế Sát, đều không phải thượng cách, không dụng Ấn thì không thể được. Nếu nguyên cục Ấn Kiếp quá nhiều, lại không dụng Sát thì không thể, không có Sát cũng không phải thượng cách.
    Hoặc không có Nhâm thủy, có Quý xuất can, được kim sinh mà không có thương hại, lại có Bính thấu để giải băng hàn, có thể bằng lòng với y khâm vậy.


    Nối tiếp đoạn văn trên. Như nguyên mệnh Ấn Kiếp quá nhiều, không có Nhâm Sát thì không quý, không có Nhâm dụng Quý. Nhưng Quý thủy ở tháng trọng Đông giống như sương tuyết, Bính hỏa lại ở vào những ngày đông tháng giá mà không có ánh sáng, không có Tỷ Kiếp xuất ra để giải băng hàn, thì không đủ để cứu giúp, cho nên có Bính thấu, thì chỉ có thể bằng lòng với
    ykhâmvậy.

    Hoặc Tứ trụ nhiều Nhâm mà không Giáp, chính là làm khí mệnh tòng Sát, cũng có con đường thanh vân ( quý tộc, quý phái).


    Bính lâm tháng Tý, khí thế đã tuyệt, tứ trụ nhiều Nhâm mà không có Giáp, lấy khí mệnh tòng Sát luận, dưới chi lấy hội thủy cục hoặc toàn phương Bắc là đẹp. Đây chính là biến cách vậy.

  2. Cảm ơn bởi:


  3. #92
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,005
    Hoặc thủy nhiều có Giáp mà không có Mậu, lại không phải tòng sát, thích hợp với dụng Kỷ thổ làm vẩn đục Nhâm, Bính hỏa sinh vào tháng 11 với Bính hỏa sinh vào tháng 10 có phần giống nhau.

    Trọc Nhâm tức là hỗn Nhâm, cách dụng giống với tháng 10. Nhưng tháng 10 Giáp mộc cung Hợi có khí, nếu như Giáp mộc không thấu, có thể dụng Giáp trong cung Hợi
    . Nếu như sinh vào tháng 11, không có Giáp mộc xuất can thì không thể được, lại càng cần có Tỷ Kiên Bính hỏa trợ giúp, thủy thổ băng hàn, không có Bính hỏa, mộc không có sức sống vậy, hoặc gặp chi Dần cũng khả dụng.

    Tóm lại: Bính hỏa sinh vào tháng 11, Giáp không thể thiếu, cho nên kị thổ làm mờ ánh sáng, do đó dụng Giáp để phá. Nếu như dụng Nhâm, thủy mùa Đông thành băng đá, không gặp Tỷ Kiên, cần xem xét khi dụng.


    Bính hỏa sinh vào tháng 11, ở đất Suy tuyệt, khí thế Hưu tù, không thể không có Giáp để sinh, thủy vượng không thể không có Mậu chế. Mà hỏa Suy tuyệt, gặp thổ làm mờ ánh sáng, không dụng Giáp phá thổ thì không hiển đạt, nói như vậy là dụng thổ chế Nhâm thủy vậy. Giữa mùa Đông trời thì lạnh đất thì đóng băng, Nhâm thủy thành băng, không có chi thành hỏa cục, can gặp Tỷ Kiên, không thể dụng Nhâm thủy. Cho nên hỏa Suy tuyệt, mà gặp thủy đương vượng,
    phá sự khắc chế của nó thì rễ ràng, mà trở thành cái mà ta dụng được thì khó khăn, vậy phải thận trọng cân nhắc sử dụng sao cho phù hợp.

    Tân Hợi, Canh Tý, Bính Dần, Canh Dần


    Quan Bố chính.


    Theo mệnh tạo này thì khí kim thủy chi năm, chi tháng vượng, mừng được hai Dần ở ngày giờ, trong Dần ám tàng Giáp mộc, lại có Bính hỏa trợ giúp, vận hành phương Nam, thảo nào quý hiển.


    Tân Dậu, Canh Tý, Bính Tý, Quý Tị.


    Dụng Bính là người đức tài nổi bật, tiểu phú.


    Theo mệnh tạo này được, nhật Lộc quy thời, chuyên dụng một điểm Lộc ở chi giờ, sau trung niên, hai vận Ất Mùi Giáp Ngọ mộc hỏa tương sinh, đương nhiên được tốt đẹp đến cuối đời.


    Đinh Tị, Nhâm Tý, Bính Tuất, Mậu Tý.


    Kim hàn thủy đóng băng, Đinh Nhâm đều mất, Mậu hối hỏa quang, nghèo khó còn thêm bệnh tật mà chết.


    Theo mệnh tạo trên, nhật nguyên đắc lộc ở Tỵ, tạo này đắc căn ở Tuất, khí tương đối suy nhược, Đinh Nhâm hợp nhất, cả hai đều mất đi tác dụng của mình, tóm lại là cục thủy vượng hỏa suy, không dụng Giáp mộc thì không thể được, vận hợp với Đông Nam, Tấy Bắc là đất Tử tuyệt của mộc hỏa, nhất định không có ích lợi vậy. Những ví dụ trên trích từ sách Tạo hóa nguyên thược.


    Tân Dậu, Canh Tý, Bính Thìn, Kỷ Sửu.


    Sinh giờ Sửu ngày 3 tháng 12 năm thứ 11 đời vua Hàm Phong.


    Mệnh Đường Thiệu Nghi: Bính hỏa sinh vào giữa Đông, không thể không có Bính Giáp. Tứ trụ này Tý Dậu kẹp Tuất Hợi, Thìn Sửu kẹp Dần Mão, Mão Tuất, Dần Hợi tương hợp, thành ám Kiếp ám Ấn, lấy mộc hỏa hư thần làm dụng, địa vị đủ hết, cho nên là quý, vận hành phương Nam, vị đến Tổng quản ( tể tướng).


    Tân Mùi, Canh Tý, Bính Tuất, Giáp Ngọ


    Sinh giờ Ngọ ngày 29 tháng 10 năm thứ 10 đời vua Đồng Trị.


    Mệnh Danh y Hạ Ứng Đường: Ngày hàn trở thành ấm, tuy gặp Ngọ Tuất hội cục, vẫn dùng Giáp mộc, vận hành Ất mộc Giáp mộc, danh trọng một thời, qua đời ở vận Quý.


    Canh Thìn, Mậu Tý, Bính Tý, Canh Dần


    Sinh giờ Dần ngày 12 tháng 11 năm thứ 6 đời vua Quang Tự.

    Mệnh Đàm Đơn Nhai: Chỉ lấy Giáp mộc cung Dần làm dụng, Bính hỏa gặp Mậu thổ thì bị hối mờ ánh sáng, chính là không Quý, Mậu thổ chế thủy sinh Tài, khiến Giáp mộc đắc dụng mà tận lực sinh phù , chính là phú cách, vận hành Đông nam, giữ chức giám đốc Ngân hàng Đại Lục. Bất ngờ mất ở năm Quý Dậu, hưởng thọ 54 tuổi.


    Giáp Tý, Bính Tý, Bính Dần, Bính Thân.


    Sinh giờ Thân ngày 29 tháng 11 năm thứ 3 đời vua Đồng Trị.


    Mệnh thương gia buôn muối Chu Tương Thương: Chỉ dụng Giáp mộc, lại có Bính hỏa để trợ giúp. Song phú trọng quý khinh, là do không có Nhâm thủy để bổ trợ cho ánh chiếu sáng được rực rỡ, khí sáng tỏ không đủ, qua đời ở vận Mùi năm Giáp Tuất.


    Kỷ Mão, Bính Tý, Bính Tý, Đinh Dậu.


    Sinh giờ Dậu ngày 7 tháng 11 năm thứ 5 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Hồ Hán Dân: Tý là nơi hoàng đế ngồi (1), năm Mão giờ Dậu, Đông Nam đối vị, Mão Dậu là cửa nhật nguyệt ( ngày tháng) ra vào,
    Tài Quan Ấn Tam Kỳ đều đầy đủ, tượng đại quý, chỉ tiếc Thương cư trên Ấn, Kiếp lâm Tài địa, sinh ở trước Đông chí, nhất dương cùng hồi phục. Phàm không có vận mộc hỏa tương trợ, chưa thành công mà đã qua đời, tiếc quá!

    Quý Mùi, Giáp Tý, Bính Tuất, Tân Mão.


    Giờ Mão ngày 9 tháng 11 năm thứ 9 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Trương Hồng Chí: Không có Nhâm dụng Quý, Quan tinh thừa vượng nắm lệnh, lại được Giáp mộc sinh trợ, chỉ tiếc Bính Tân hợp nhất, Nhật nguyên luyến Tài và không hướng về Quan Ấn, Dụng thần không chuyên trở thành bệnh vậy, vị đến Tổng thư ký viện hành chính. Lại mệnh Uông Lịch Viên: giờ Nhâm Thìn, năm tháng giờ đều giống nhau, Nhâm thủy xuất can, vị đến Trưởng đại lý viện ( Tòa thượng thẩm).


    Ghi chú
    :
    1/ Tý là nơi hoàng đế ngồi: Tý là hướng Bắc, Hoàng đế là ám chỉ sao Tử vi hay còn gọi là sao Bắc cực. Ngôi sao này trong Tử vi coi nó là vua của các vì sao. Trong thiên văn học thì nó nằm ở trong tròm sao Tiểu hùng tinh.

  4. Cảm ơn bởi:


  5. #93
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,005
    Bính hỏa sinh vào tháng 12
    Tháng 12 khí tiến nhị dương, lấn át tuyết ức hiếp sương, nên trước là lấy Nhâm làm dụng, Kỷ thổ tư lệnh, Kỷ nhiều cần phải dụng Giáp làm phò tá.


    Bính hỏa không sợ thủy khắc mà chỉ sợ thổ tiết, mặt trời chiếu xuống sông hồ, ánh sáng của nó đặc biệt lóng lánh, không có Nhâm không thể đạt được phú quý, không có Giáp không thể sinh Bính, thổ dù có hay không dù nhiều hay ít thì cũng vậy. Nhưng Kỷ nhiều thì không thể không có Giáp.


    Nhâm Giáp cùng thấu, nhất định khoa bảng, cho dù phong thổ kém, có thể bằng lòng với Cống Giám (1), Giáp tàng, không quá tú tài. Hoặc không có Giáp mà một Nhâm thấu, trong phú có quý, ba tháng mùa xuân đều có lợi.


    Nhâm Giáp cùng thấu, nhất định quý ở khoa bảng, Giáp tàng mà vận trình Đông nam, mộc hỏa đắc địa, cũng có thể đạt được quý vậy. Tháng 12 Kỳ thổ nắm lệnh, vô hình trung, hối Bính làm vẩn đục Nhâm, không có Giáp không thể có quý hiển, song gặp Nhâm thấu, tức có tượng ánh sáng óng ánh rực rỡ. Như vậy đó là lý do ba tháng mùa xuân đều có lợi vậy, chỉ phú trọng mà quý khinh mà thôi.


    Hoặc một bầy Kỷ thổ, không thấy Giáp Ất, gọi là giả Thương quan cách, tính thông minh kiêu ngạo, ngày Đông không có ôn loãn, cho nên là giả danh giả lợi. Nếu gặp Giáp mộc, chính là cần lấy Thương quan bội Ấn làm dụng, danh lợi kiêm toàn.

    Hoặc một bầy Quý thủy, Kỷ thổ xuất can, tất nhiên tự sáng lập cơ nghiệp. Nếu Kỷ thổ chế Quý thái quá, lại lấy Tân kim tiết thổ sinh Quý, chắc chắn thấu Quý mới đẹp, tuy không thành danh, nhưng là con người tao nhã phong độ.

    Kỷ Quý Tân trong Sửu đồng cung, Kỷ Quý xuất can, nguyệt lệnh đồng cung đắc dụng, chắc chắn là người sáng lập, được Tân kim cùng xuất, tiết Kỷ sinh Quý, là hỷ dụng đồng cung tụ khí, chứng cớ quý hiển vậy, tức không thành danh, thì cũng là người tao nhã phong độ vậy. Hỷ dụng đồng cung cũng là một trong những cách xem. Nếu như hợp với yêu cầu của nhật nguyên, mà đắc dụng, nhất định mệnh quý hiển. Cho dù không đắc dụng thì cũng là một loại bằng chứng quý hiển đầy đủ vậy.

  6. Cảm ơn bởi:


  7. #94
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,005
    Quý Mão, Ất Sửu, Bính Ngọ, Nhâm Thìn.
    Quan Thống lĩnh.


    Theo mệnh tạo này thì nhật nguyên tọa Nhận, Thất sát xuất can, Sát Nhận cách ấy mà, kì diệu là ở hai chữ Ất Mão, Chính Ấn đắc Lộc, Thìn Ngọ kẹp Tị Lộc, Sửu Mão kẹp Trường Sinh ( Dần), nhật nguyên ám vượng, hành kim thủy vận, có Ấn hóa, hợp với làm đại quý cách.


    Ất Sửu, Kỷ Sửu, Bính Dần, Canh Dần.


    Hai Giáp chế thổ. Quan án sát.


    Theo mệnh tạo này có hỏa thổ Thương quan bội Ấn vậy, không có Ấn sao có thể đạt được quý hiển vậy.


    Ất Dậu, Kỷ Sửu, Bính Dần, Kỷ Sửu.


    Kỷ nhiều thì dụng Giáp phá, Giáp lại Lộc tại Dần, Dụng thần đắc vị. Trạng nguyên.


    Theo mệnh tạo này, chuyên dụng Giáp mộc trong Dần Kỷ thổ tiết tú khí của Bính hỏa, thông minh sẵn có, Thương quan thái trọng, tất nhiên lấy Thương quan bội ấn làm dụng.


    Kỷ Sửu, Đinh Sửu, Bính Ngọ, Canh Dần.


    Dụng Giáp chế Kỷ. Đề danh nhất bảng.


    Theo mệnh tạo này thì hỏa thổ Thương quan mà Dần Ngọ hội cục, cũng là Thương quan bội Ấn.


    Kỷ Tị, Đinh Sửu, Bính Tuất, Canh Dần.


    Cũng dụng Giáp mộc. Nhất bảng đề danh.


    Giống với mệnh tạo trên.


    Ất Tị, Kỷ Sửu, Bính Thân, Quý Tị.


    Dụng Tân đắc kim cục. Tay trắng mà thành danh.


    Theo mệnh tạo này thì Bính lâm Thân vị, khí thế quá yếu, may mắn hai Tỵ trụ năm trụ giờ, Bính hỏa đắc lộc, Tị Sửu hội cục, Thương quan dụng Tài, là nhân vật trong giới thương nhân,
    Quý thủy phá Thương, cho nên không quý vậy. Các ví dụ trên trích ra từ sách Tạo hóa Nguyên thược.

    Mậu Tuất, Ất Sửu, Bính Thìn, Mậu Tuất.


    Sinh giờ Tuất ngày 30 tháng 11 năm thứ 30 đời vua Càn Long.


    Mệnh Đào Chú: Thổ trọng mà chân thực, cách thành Giá sắc, sinh trước Đại hàn 3 ngày, trời lạnh đất đóng băng, mừng ngày Đông ấm áp, lấy Ất mộc làm dụng, trở thành hỏa thổ Thương quan vậy. Trích Thiên Tủy nói rằng: Cục tử vượng mẫu Suy, cần trợ giúp mẫu, vận hành phương Nam, thổ ấm mà nhuận sinh, vận vật tranh đua sinh trưởng. Vận Tỵ năm Nhâm Ngọ nhậm
    chức hoàn phủ ( tỉnh An Huy). Vận Ngọ năn Canh Dần làm Tổng đốc hai tỉnh Lưỡng Giang (2), thổ ấm áp mà sinh, rõ ràng có thể thấy rõ vậy, bất ngờ vào vận Mùi năm Kỷ Hợi, thọ 62, Thụy hiệu là Văn Nghị.

    Tân Dậu, Tân Sửu, Bính Dần, Nhâm Thìn.


    Sinh giờ Thìn ngày 13 tháng 12 năm 11 đời vua Hàm Phong.


    Mệnh Ấn quang lão pháp sư: Tài vượng Sát cao, chuyên dụng mộc viêm cung Dần, Dần Thìn kẹp Mão, khí tụ phương Đông, Mão là điều quý của Nhâm thủy, Bính quý ở Dậu, Tân quý ở Dần, mãn bàn ( toàn cục) Thiên ất rồi gặp Hoa cái, hợp với con đường Tăng đạo, vận hành Ất Mùi Giáp Ngọ, danh khắp thiên hạ, đến vận Quý bế quan tu dưỡng.


    Đinh Mão, Quý Sửu, Bính Thân, Mậu Tý.


    Sinh giờ Tý ngày 17 tháng 12 năm thứ 6 đời vua Đồng Trị.


    Mệnh Thái Tử Dân: Chuyên lấy Kiếp Ấn trụ năm làm dụng, vãn niên vận hành phương Nam, giữ chức Viện trưởng viện nghiên cứu trung ương.


    Bính Tý, Tân Sửu, Bính Thân, Mậu Tý.


    Sinh giờ Tý ngày 10 tháng 12 năm thứ 2 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Tào Nhữ Lâm: Bính Tân tranh hợp, không có Thìn không lấy tòng hóa luận, lấy Tân kim tiết thổ để bảo vệ Quan tinh Tý thủy, tuy gặp nhị dương tiến khí, cuối cùng vẫn hiềm thân nhược, hành vận phương Đông, giữ chức Bộ trưởng tài chính giao thông.


    Quý Mùi, Ất Sửu, Bính Dần, Canh Dần.


    Sinh giờ Dần ngày 20 tháng 12 năm ( tất) đời vua Quang Tự.


    Mệnh Trử Dân Nghị: Hai Dần ở trụ ngày và giờ, nhị dượng tiến khí, Bính hỏa vượng tướng, lấy Canh Dần tiết Kỷ thổ sinh Quý thủy, hỷ Quý thủy xuất can, giữ chức Tổng thư kí viện hành chính.


    Mậu Tuất, Ất Sửu, Bính Tuất, Quý Tị


    Sinh giờ Tỵ ngày 7 tháng 12 năm 24 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Thượng Tiểu Vân: Quý thủy xuất can, Mậu thổ thương hại, thổ trọng thương Quý, chỉ là đào kép tiếng tăm.


    Ghi chú:
    1/ Cống Giám: Trong chế độ khoa cử đây là một trong những danh mục của Giám sinh. Triều đại nhà Minh, Thanh lấy tư cách của Giám sinh vào Quốc tử giám học tập thì gọi là Cống Giám.

    2/ Lưỡng Giang: Đầu đời Thanh chỉ hai tỉnh Giang nam và Giang Tây, sau đời Khang Hi, Giang Nam phân thành hai tỉnh GiangTô và An Huy. Nay cả ba tỉnh vẫn gọi là Lưỡng Giang, Trung Quốc.



 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •