Chào mừng đến với Tử Bình diệu dụng.
Trang 5 của 5 Đầu tiênĐầu tiên ... 345
Kết quả 41 đến 48 của 48
  1. #41
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,303
    Đã hết phần Ngũ hành tổng luận. Bạn đọc chuyển tiếp sang nội dung Giáp mộc anh letung73 đã đăng.

    Phần chú thích của người dịch (ND) là ý hiểu của tôi ghi lại trong lúc dịch để sau này đọc lại, có thể khi đó còn nông cạn, các bạn tham khảo thêm.
    Phản bổn quy chân

  2. #42
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    4,868
    Tổng luận Giáp mộc trong 3 tháng mùa Thu.

    Giáp mộc sinh vào 3 tháng mùa Thu, Mộc tính vừa khô, Kim Thổ thừa vượng, trước chọn Đinh sau mới chọn đến Canh, Đinh Canh lưỡng toàn, đem Giáp tạo thành thư kích ( Ý chỉ lấy Giáp mộc như một lá thư có thể giao chiến, hoặc ví như dùng Giáp mộc như bút sách để đả phá công kích kể thù).

    Mộc sinh ở vào 3 tháng mùa Thu, cành khô lá héo thích hợp với kim cứng cắt tỉa đẽo gọt, mới trở thành nhân tài trụ cột của quốc gia, sách viết: Tử Mộc đắc Kim mà có thành tựu, Canh Tân tất lợi, mà Kim khí vừa thừa vượng nắm lệnh, cho nên Mộc gặp Kim trở thành chân thần đắc dụng, quý hiển phần nhiều, không như Mộc mùa Hạ gặp Hỏa, Mộc mùa Đông gặp Thủy, Mộc mùa Xuân gặp Thủy là kị, Giáp mộc cần được Canh kim gọt rũa để trở thành người tài năng, Canh kim mừng có Đinh hỏa luyện rèn để trở thành khí cụ, như vậy toàn bộ khi luận Giáp mộc với ba tháng mùa Thu phù hợp với dụng Canh Đinh.

    Giáp mộc sinh vào tháng 7.

    Giáp mộc tháng 7 có thể chịu được búa rìu, song không có Đinh hỏa thì không thể tạo ra Rìu sắc ( Canh kim), không có Canh kim không thể tạo ra Giáp, Đinh Canh lưỡng thấu, khoa giáp đăng quang.

    Mộc mùa Thu là Mộc thành khí cụ, Mộc đắc Kim mới trở thành thư kích, không có Đinh hỏa không thể chế ra (búa rìu) Canh kim, không có Canh không thể chế ra Giáp mộc ( cột trụ), Đimh Canh cùng thấu, mà được phối hợp với Giáp mộc, chính là trở thành người có tài năng hoặc châu báu, dụng Canh dụng Đinh sẽ tường thuật rõ ràng ở phần dưới, cho dù dụng Canh kim nhưng không thể không có Đinh hỏa cùng phối hợp vậy.

    Canh lộc ở Thân, Ấn Sát tương sinh, vận hành Kim thủy, tất nhiên hiển đạt, người dụng Canh, Kim Thủy vận đại quý.

    Đây là nói về việc dụng Canh, cung Thân Canh kim đắc Lộc, Nhâm thủy trường sinh, Sát Ấn hai kẻ tụ ở dụng lệnh ( tháng Thân tàng Kim Thủy Sát Ấn của Mộc), đồng cung đắc khí, Canh kim thừa vượng, nếu Canh xuất can mà không có Đinh chế, tất thương hại Giáp mộc, gặp Đinh thì Kim Mộc thành người đức độ tài năng ( thành đồ dụng cụ, đồ dùng), nguyệt lệnh Sát Ấn tương sinh, lại hành vận Kim Thủy, dụng thần đắc địa, tất là đại quý.

    Hoặc Canh thấu mà vô Đinh, chỉ giàu mà thôi, chủ là người lao tâm khổ tứ rất nặng, không thể an nhàn mà hưởng thụ, hoặc Đinh thấu Canh tàng, cũng chủ thanh khâm (áo học trò thời xưa) tiểu phú, hoặc Canh nhiều mà không có Đinh, là người bệnh tàn tật, nếu là tăng đạo, tai ách có thể được giải.

    Đây là nói về dụng Canh, không thể không có Đinh hỏa để phối hợp, tuy là Sát Ấn tương sinh, vận hợp Kim Thủy, nếu không có Đinh, Kim không thành khí, chỉ có một chút giàu có mà thôi, mà Sát vượng tất chủ lao khổ tầm thường, không thể có cuộc sống an nhàn hưởng thụ được, Đinh thấu Canh tàng, dụng Sát Canh là không hiển đạt, nhưng mà nguyệt lệnh Canh kim đương vượng, được Đinh tương chế, cũng chủ thanh khâm mà tiểu phú, Giáp mộc đến Thân, hưu tù vô khí, nếu như Canh nhiều ( giống như chi hội Kim cục can nhiều Canh Tân), mà không có Đinh hỏa tương chế, thì Mộc phá Kim thương, tất dẫn đến tàn tật, chính là mệnh gian nan khổ cực vậy. Sau tiết Tam phục, Mộc mùa Thu mừng kim khắc chế, không sợ Kim vượng, Thu Mộc cần cường, ( chi lâm Dần Mão Thìn) Canh Đinh cùng thấu thiên can, Canh kim đương vượng, được Đinh hỏa chế, là mệnh đại phú đại quý, hai Hỏa tuy cũng khả dụng, không thể bằng việc dùng Đinh hỏa, bởi thế Bính hỏa là Hỏa thái dương, đến Thân là bệnh địa, không thể so với Đinh là lửa bếp lò dùng để nung luyện, có thể luyện Kim thành khí cụ vậy. Nếu Hỏa nhiều mà khăc chế thái quá, lại là người xoàng xĩnh mà thôi, thích hợp với dùng nhiều Ấn hóa Sát, tuy quý nhưng không đáng kể, lý này rất nghiệm, Thu Mộc cần cường, thì mới luận giống bên trên, nếu Mộc mùa Thu nhược, Mộc sinh vào tháng Thân tuyệt địa, lý giống Ất mộc, tham khảo thêm tiết bàn về Ất mộc.

  3. #43
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    4,868
    Hoặc Tứ trụ Canh vượng, lại thấy thủy nhiều, khó làm khí mệnh tòng Sát ( bỏ mệnh theo Sát), gặp Thổ nhiều, có thể lấy Tòng Sát luận.


    Tiếp tục phần trên Canh kim nhiều không có Đinh mà nói, cung Thân Nhâm thủy trường sinh, Sát Ấn tương sinh, khó lấy tòng Sát luận, gặp Thổ có thể tòng Sát tức là lấy Thổ chế thủy vậy. Mộc sinh vào 3 tháng mùa Thu, khí thế lâm Tuyệt, về lý vốn có thể tòng, gặp Nhâm thủy trường sinh, gọi là tuyệt sứ phùng sinh, sinh khí của Mộc không tuyệt, nếu như gặp Thổ nhiều phá Ấn ( Thủy), đương nhiên có thể tòng thôi.


    Canh nhiều Mậu Kỷ cũng nhiều, không có Nhâm Quý thủy, chuyên dụng Đinh hỏa chế kim, lấy sưởi ấm bầy Thổ, thì mệnh này đại phú, Đinh tàng phú nhỏ quý khinh, Tài lộ, cho dù Phong thủy bất cập, tất thừa nhận phú hào, được hai Đinh không tọa Tử Tuyệt, không những phú mà còn quý, cho dù Quý thủy bất cập, cũng có thể trong phú đạt quý, hiển đạt bằng con đường khác biệt nào đó, hoặc Quý thủy trùng điệp, chế phục Đinh hỏa, tuy có học vấn, chung quy lại cũng khó hiển đạt, được vận hành đến đất Hỏa Thổ phá Quý, cũng chỉ có chút công danh thành tựu mà thôi, tuế vận đều kém, chắc chắn là người lao khổ tầm thường, chi thành Thổ cục, Mậu Kỷ thấu can, chế khứ Quý thủy, bảo tồn Đinh hỏa, lại có thể xuất làm khoa giáp, nhưng mệnh này chủ thuộc loại tâm địa giả dối thích tranh cãi kiện tụng, tức phú quý nhưng không thể kiềm chế tính phóng đãng, bởi do tham nam vô độ mà tự gây ra họa, dẫn tới việc oán hận lầm nỗi, tuyệt đối không phải là người an phận.
    Đến đây là luận khi dụng Đinh, Nhâm thủy Thân cung, bị Mậu Kỷ chế, không thể dụng Ấn hóa Sát, Canh kim đương vượng, Thu Thổ tiết khí mà hư nhược, nhất định phải dùng Đinh hỏa chế Kim để sưởi ấm Thổ, Thương quan sinh Tài, cho nên là cách đại phú, được hai Đinh không tọa đất Tử tuyệt, ( Hỏa tử ở Dậu tuyệt ở Hợi) phú mà còn quý, cho nên điều quan trọng là ở Đinh, Đinh tàng thì phú quý đều nhỏ. Nếu Quý thủy thương Đinh làm bệnh, thì khó hiển đạt, tuy vận hành Thủy Thổ, cũng chỉ là bổ cứu tạm thời, căn trước đều ở mầm giống, không thể giải bệnh ở nguyên cục được, nếu nguyên cục có Mậu Kỷ xuất can là có cứu, là có bệnh gặp thuốc, lại có thể quý, nhưng bệnh dược tạp xuất, cách cục không thuần, hỗn loạn mà Tài phá Ấn, do tham lam mà gây ra họa, cuối cùng không phải là cách cục thượng đẳng.




    Tổng luận về Giáp mộc sinh vào tháng 7, lấy Đinh hỏa làm tôn quý, sau mới đến Canh kim, nhưng không thể thiếu Hỏa chế Thủy luyện Kim, Đinh hỏa muốn luyện Kim rất cần Giáp mộc dẫn trợ ( Hỏa), mới thành lò lửa hồng được, nếu có Quý âm thủy ngăn cản, thì diệt Đinh hỏa, Nhâm thủy cũng liệt vào hàng gây trở ngại, mà còn có thể hợp Đinh, chỉ cần gặp Mậu thổ mới có thể chế Thủy để bảo tồn Hỏa.


    Tổng kết phần trên, Giáp mộc sinh vào tháng 7, lấy dụng Đinh hỏa làm thượng cách, Canh kim là khí của tháng năm lệnh đương vượng. Dụng Thương dụng Ấn, đều từ lệnh tháng phối hợp mà ra, cho nên nói không thể thiếu, đang lúc nói về lý của Đinh hỏa là tôn quý. Giáp mộc được Đinh hỏa, chính là lò lửa hồng, để luyện rèn Canh kim đương vượng, thì Kim trở thành châu báu, cho nên dụng Đinh làm quý cách vậy. Gặp Nhâm Quý, tất lấy Mậu thổ để cứu, Đinh Nhâm tương hợp, dụng Nhân thuỷ thì không có trở ngại, nếu như dụng Đinh hỏa, thì rất cần gặp Mậu thổ chế Nhâm, mới có thển lưu tồn được Hỏa vậy, ( dụng Nhâm cũng kiêng kị bị trói buộc, duy chỉ không mất đi tác dụng của Thủy mà thôi).


    Bính Ngọ, Bính Thân, Giáp Dần, Đinh Mão.



    Bệnh là ở Bính Đinh tạp loạn, cho nên chuyên dụng Canh kim, hành vận Tuất liên tục dành chiến thắng, Canh vận lên đến chức Thị lang.


    Theo mệnh tạo này, giờ gặp Dương nhận, chuyên dụng Canh kim cung Thân chế nhận, Canh kim đương lệnh, cách cục đạt được quý cách, duy chỉ lo Bính Đinh cùng xuất can chế Sát thái quá, hành Tuất vận, phá Ấn tiết khí Thực thương sinh Sát, địa vị lên hạng quý tộc.


    Ất Mùi, Giáp Thân, Giáp Tý, Ất Hợi. Mệnh Đô Liêm, Thìn vận vong.


    Theo mệnh có Tý Thân hội cục, Thủy vượng Canh kim tiết khí, không dụng tài phá Ấn thì không thể, Thìn vận hội tề với Thủy cục đương nhiên bị chết.


    Kỷ Hợi, Nhâm Thân, Giáp Tuất, Đinh Mão. Là người nhiều tài năng.


    Theo mệnh Nhâm thủy hợp khứ Đinh hỏa, Ky thổ không thể chế Nhâm, Bệnh trọng mà thuốc nhẹ, chỉ là người lắm tài mà không quý.


    Mậu Ngọ, Canh Thân, Giáp Dần, Bính Dần. Quan huyện lệnh, Sửu vận mất chức.


    Theo mệnh cục nhật chủ đúng lưỡng vượng mà có chế, đó là mỹ cách vậy, tiếc Hỏa thái vượng, mà lại là Bính hỏa, mà không phải Đinh hỏa, Hỏa vận đến Sửa thì kết thúc. Những mệnh trên lấy trong sách Tạo hóa nguyên thược.


    Đinh Dậu, Mậu Thân, Giáp Thân, Ất Hợi. Sinh giờ Hợi ngày 03 tháng 8 năm Khang Hi thứ 15.


    Mệnh A Quế: người Mãn Châu, Mậu thổ hạn chế Nhâm thủy, không tiết khí của Canh Sát, chỉ lấy Đinh hỏa Thương quan giá Sát làm dụng, vận hành phương Nam. bình định Y Lê*, thảo phạt Miến Điện, bình định Kim Xuyên, lập công lớn mà được tất phong anh hùng, làm quan đến đại học sĩ, sau khi chết thụy hiệu là Văn Thành.



    Tân Mùi, Bính Thân, Giáp Thân, Bính Dần. Sinh giờ Dần ngày 08 tháng 07 năm thứ 16 Gia Khánh (niên hiệu của vua Nhân Tông thời nhà Thanh, Trung Quốc, 1796-1820) .


    Mệnh Trương Chi Vạn: Trong mệnh Bính Tân trụ tháng và năm hợp, khứ được một Bính, chuyên dụng Bính hỏa can giờ, Giáp vượng xuất sinh, làm quan đến Đại hoch sĩ.


    Quý Mùi, Canh Thân, Giáp Tuất, Bính Dần. Sinh giờ Dần ngày 08 tháng 07 năm Đạo Quang thứ 3.


    Mệnh Tưởng Lư Tử: Dùng Bính hỏa chế Kim để dưỡng bầy Thổ, phú cách.


    Quý Hợi, Canh Thân, Giáp Dần, Ất Hợi. Sinh giờ Hợi ngày 10 tháng 07 nhăm thứ 2 Đồng Trị (niên hiệu vua Mục Tông, thời Thanh, Trung Quốc, 1862-1874).


    Mệnh Lục Kiến Chương: Thân vượng mượn Sát làm quyền, hành vận Nhận Ất Mão, năm quyền sinh quyền sát, vận Giáp bị giết vì thù hận.


    Ất Dậu, Giáp Thân, Giáp Tý, Ất Hợi. Sinh giờ Hợi ngày 28 tháng 7 năm thứ 11 Quang Tự (niên hiệu Thanh Đức Tông, thời Thanh, Trung Quốc).


    Mệnh Vương Bá Quần: Tiếc là không có Đinh hỏa để phối hợp, vận nhập Đông Nam, quý làm đến Bộ trưởng giao thông.


    Canh Dần, Giáp Thân, Giáp Thân, Giáp Tuất. Sinh giờ Tuất ngày 16 tháng 07 năm thứ 16 Quang Tự (niên hiệu Thanh Đức Tông, thời Thanh, Trung Quốc).


    Mệnh Viên Khắc Văn: Sát chỉ có một ngồi ở chi năm làm quý, ba Giáp đứng trên đầu, lấy chi năm Dần lộc làm căn, chuyên nhờ cậy vào sự che chở ở trên thì có thể, Đinh hỏa không thấu, cuối cùng chỉ là công tử đáng kính mà thôi.


    Ghi chú: * Y Lê: Là một châu tự trị nằm ở phía Tây Bắc Trung Quốc. Khu tự trị này được thành lập vào năm 1956. Nó được ví như phên dậu của vùng Tây Bắc Trung Quốc thời cổ để chống lại các thế lực phương Bắc.

  4. #44
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    4,868
    Giáp mộc sinh vào tháng 8.


    Giáp mộc sinh vào tháng 8, Mộc suy Kim vượng, trước là dụng đinh Hỏa, sau thì dụng Bính hỏa, sau nữa mới đến Canh kim.


    Giáp mộc sinh vào tháng 8, Mộc khí Hưu tù, Kim vượng thừa quyền, dụng Đinh chế Kim, dụng Hỏa điều hầu, nguyệt lệnh Kim thần đang vượng, cho nên trước dùng Đinh hỏa, không có Đinh hỏa thì dụng Bính, luyện Kim thì Đinh Hỏa lực mạnh, điều hầu thì Bính hỏa lực đủ, mỗi cái đều có ưu điểm của chúng, nếu như Canh kim thấu can, không có Đinh hỏa chế thì không thể được, hoặc gặp Tân thấu, cũng hợp với dụng Đinh hỏa, Bính với Tân hợp ngược lại là mất tác dụng của nó, nếu như Tỷ Kiếp nhiều, hoăc chi thành Mộc cục, thì cần Kim chế, lại càng cần có Hóa chế Kim, ( sẽ tường thuật rõ ở phần dưới) cho nên mới viết là " Canh kim là thứ vậy".


    Một Đinh một Canh, khoa giáp ắt hiển, Quý thủy một thấu, khoa giáp khó toàn. Trong trụ có một Đinh một Canh, Đinh hỏa chế Kim mà thành khí cụ ( tài năng, đức độ), cho nên khoa giáp ắt hiển, thấu một Quý thủy, thương khắc Đinh hỏa, Canh kim không được chế, cho nên không thể giành được phú quý.


    Bính Canh cùng thấu, phú đại quý tiểu, Bính Đinh đều không, là mệnh tăng đạo, Bính thấu mà không có Quý, phú quý song toàn, Quý xuất chế Bính, chỉ là thường nhân, ở trên nói về Đinh Canh. Bây giờ nói về Bính Canh, sức luyện Kim thì Bính không sánh kịp Đinh, mà Bính chỉ gồm đủ tác dụng điều hầu, cho nên viết " quý đại phú tiểu". Nếu như Canh kim thấu mà không có Bính Đinh chế, thì Mộc bị Kim làm cho tổn hại, là mệnh tăng đạo vậy, với phần dưới nói chi thành Kim cục thì cách xem giống nhau, phần trên nói Quý thấu tổn Đinh, khoa giáp khó toàn, nói như vậy là Bính thấu mà không có Quý, thì phú quý song toàn, ý nghĩa của nó cũng như nhau vậy thôi. Tóm lại Kim vượng không thể không có chế, Dụng thần không thể bị thương, Dụng thần bị thương đều là thường nhân.


    Chi thành hỏa cục, có thể bằng lòng với giả quý ( sự quý không thật), Mậu Kỷ cùng thấu có thể là phú ông.


    Chi thành hỏa cục, chế kim thái quá, Quan tinh bị thương, chỉ bằng lòng với sự quý giả mà thôi. Mậu Kỷ tiết Hỏa, cách cục chuyển thành Thương quan sinh Tài, Tài tinh đắc dụng, là cách cự phú, nhưng thân cần phải vượng, mới luận như vậy.


    Hoặc chi thành kim cục, can lộ Canh kim, là Mộc bị kim thương, tất chủ tàn tật, được Bính Đinh phá kim, thì chủ về già xảy ra ám tật ( bệnh kín; bệnh khó thổ lộ cùng ai; bệnh không thể nói ra được).


    Tháng 8 Mộc khí hưu tù, Kim thần thừa quyền, chi thành Kim cục mà Canh kim Sát thấu, Mộc bị Kim thương, không chết yểu thì cũng tàn tật, chỉ gặp Kim mà không phải Kim cục, nếu không có Bính Đinh tương chế thì không thể được. Ví như chi lại thành cục, cho dù được Bính Đinh phá Kim, cũng tránh Mộc khí, Mộc khí bị nội thương, chủ về già đau ốm.


    Hoặc chi thành Mộc cục, can thấu Tỉ Kiếp, ngược lại lấy Canh làm trước tiên, sau mới đến dụng Đinh hỏa.


    Tháng 8 mùa Thu Mộc rất già, sinh khí thu lại vào bên trong, lúc này thích hơp với dùng búa rìu ( Canh kim). Kết thành Mộc cục, can thấu Tỷ Kiếp, tất cả cành lá khô héo mà vô dụng, ngược lại lấy Canh kim trước tiên, lúc này khí của mùa Thu lấy Sát làm sinh, cách thành Sát Nhận, giữa mùa Thu Kim vượng thừa quyền, tất lấy Đinh hỏa chế Sát làm phò tá, Canh kim được Đinh hỏa, chính là búa rìu phát huy được tác dụng, mùa Thu Mộc thịnh, Sát vượng có chế, tất là quý cách vậy.


    Ất Mùi, Ất Dậu, Giáp Tý, Đinh Mão.


    Đinh hỏa cao chiếu. Mệnh Thái Thú.


    Theo mệnh tạo có Đinh hỏa cao chiếu, nói đến cái đẹp trong sự phối hợp, Giáp Tý Quan Ấn tương sinh, Đinh hỏa cao chiếu, không hại Quan tinh, lấy nguyệt lệnh Quan tinh chế Nhận làm dụng thần, vận hành Tân Tị Canh Thìn, Quan tinh đắc địa, sao mà không được quý ư?


    Canh Dần, Ất Dậu, Giáp Tý, Đinh Mão.


    Chi tàng Bính hỏa, trụ giờ gặp một Đinh. Mệnh Tham chính.


    Theo mệnh tạo thì Ất Canh Sát Nhận, tương hợp có tình, Đinh hỏa cao chiếu, chế được thích hợp, mùa Thu Mộc thịnh, hợp với vận Quan Sát, giống với tứ trụ trên, nội là Tham chính (tham gia hoạt động chính trị hoặc tham dự trong cơ cấu chính trị), ngoài là quan Thái thú, phẩm cấp bổng lộc giống nhau vậy.


    Ất Tị, Ất Dậu, Giáp Tý, Giáp Tý.


    Chu Văn Công, mệnh đứng đắn ngay thẳng.


    Theo mệnh cục có Tỵ Dậu hội cục, Sát Ấn tương sinh, hai can không tạp, tốt là ở trong Tỵ có Bính ám tàng, há không phải là quý mệnh sao.


    Bính Tuất, Đinh Dậu, Giáp Dần, Đinh Mão.


    Làm quan Hiếu liêm đến năm Mão.


    Theo trong mệnh thì Bính Đinh cùng thấu, Quan tinh bị chế ( Thái thú). may mắn hành vận đến đất Kim Thủy, cuối cùng được đắc cử làm quan Hiếu liêm. Những tứ trụ trên lấy trong sách Tạo hóa nguyên thược.


    Đinh Tị, Kỷ Dậu, Giáp Tý, Mậu Thìn.


    Sinh vào giờ Thìn ngày 16 tháng 8 năm thứ 7 đời Hàm Phong (niên hiệu của vua Văn Tông thời Thanh ở Trung Quốc, 1851-1861).


    Mệnh Hoàng Dĩ Lâm: Chi thành Sát Ấn lưỡng cục, Thiên can Đinh hỏa Mậu Kỷ cùng thấu, phú quý đủ cả, đứng đầu bảng Tri phủ Vũ Xương, quan tuần cảnh Hồ Bắc.


    Quý Mùi, Tân Dậu, Giáp Thân, Bính Dần.


    Giờ Dần ngày 07 tháng 09 năm thứ 09 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Lưu Chấn Hoa: Bính Tân cách vị không hợp, Quý không hại Bính, quý làm chủ tịch, làm quan Thống soái quân đội.


    Nhâm Dần, Kỷ Dậu, Giáp Tuất, Bính Dần.


    Sinh giờ Dần ngày 10 tháng 08 năm thứ 47 đời vua Càn Long.


    Mệnh Thanh Tuyên Tông ( Đạo Quang ): Có lẽ nói là ngày 08 giờ Dần, giống như Nhâm Thân, Nhâm Dần, không biết cái nào là thục, cho nên chỉ chép ra để tham khảo mà thôi.

  5. #45
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    4,868
    Giáp mộc sinh vào tháng 9.

    Giáp mộc sinh vào tháng 9, tính chất của Mộc là điêu linh, Đinh hỏa Nhâm Quý sinh sôi phù giúp.

    Cuối mùa Thu tháng 9 khí hàn, Giáp mộc điêu tàn, tháng thổ tường thành lại là Thổ táo, không thể nhuận Thủy dưỡng Mộc, cho nên không luận dụng Mậu dụng Canh. Tứ trụ thích hợp có Đinh hỏa Nhâm Quý để phối hợp, gặp Thủy tức Thủy nhuận, gặp Hỏa thì Mộc thanh tú. Mộc tàn lụi mà được Thủy Hỏa sinh sôi phù giúp mà dụng với Mậu Canh mới là thượng cách.

    Mậu Kỷ cũng thấu, phối được trung hòa, có thể nhất bảng đề danh, Canh kim đắc gốc, chắc chắn khoa giáp, nhưng cần phải có chí khí cùng Phong thủy với vận trình tương hợp. Nếu gặp một hai Tỷ Kiếp, không có Canh Tân chế phục, thì cũng chỉ là thường nhân mà thôi, vận không đắc dụng, bần mà không thể lập được thân ( không có một tấc đất cắm dùi).

    Mậu Kỷ cũng thấu, nói lấy Tài tinh làm dụng, Canh kim được gốc, gọi là thông căn Thân Dậu vậy. Tháng 9 Thổ vượng nắm lệnh, dụng Tài thì có thể nhất bảng đề danh, gặp Canh Tài vượng sinh Quan, chính là quý mà khoa giáp, dụng Tài mà gặp Tỉ Kiên tranh Tài, tất Canh kim là hộ thần của Tài tinh, không có Canh chỉ là thường nhân thôi. Hành vận lại gặp đất Tỷ Kiếp, bần mà không thể lập được thân. So sánh tháng tứ quý, đều chỉ nói ở sau nữa tháng. Trước nữa tháng cách xem giống tháng ở trên, ( nói như thế là Thiên quan chế Tỷ hộ Tài).

    Ví dụ một mệnh tạo sau: Giáp Thìn Giáp Tuất Giáp Thìn Giáp Tuất.
    Phú quý thọ toàn, mệnh Đài các, từ mệnh này mà thấy Thiên nguyên nhất khí, lại gọi một Tài một Dụng, gặp Tỷ dụng Tài, chuyên lấy Thổ cuối mùa.
    Bàn tiếp đoạn trên, gặpTỉ dụng tài, lấy Quan Sát làm thần hộ vệ, thì giống Tài Quan cách, lấy Thực Thương để hóa, thì giống Thực Thương sinh Tài cách. Nếu không dụng Quan Sát Thực Thương mà dụng Tài tinh, thì Tài tinh, chỉ tháng tứ quý có thôi, như tứ trụ này là chính xác vậy, tứ chi của mệnh tạo này đều là Thổ, lại đúng dịp Thổ vượng năm lệnh, không gặp Tỷ dụng Tài, chính là Tài vượng dụng Tỷ vậy, lại thêm Thiên nguyên nhất khí, một Tài một Dụng ( một Tài một Tỉ), thể dụng đều trong thanh, cho nên phú quý đến già là phải. ( Nói như vậy là chuyên dụng Tài tinh).


    Hoặc thấy Canh thấy Bính, có thể là tú tài, tay trắng thành danh, phàm dụng Hỏa là Mộc thê Hỏa tử ( con), thê hiền tử giống cha.


    Luận tiếp đoạn trên, tháng 9, Tài tinh lệnh tháng đương vượng, Canh Bính đều thấu, dụng Bính hỏa khử Canh sinh Tài, chuyển thành Thực thần sinh Tài cách, quý nhỏ mà phú lớn, lấy Bính làm dụng, cho nên Mộc là vợ Hỏa là con, ( ở đây là nói Thực thần sinh Tài cách).


    Nếu tứ trụ Mộc nhiều, dụng Bính dụng Đinh, đều không phải là hay, dụng Canh mới là kì diệu. Tháng 9 dụng Canh là không lấy Thổ làm vợ Kim làm con, đương lấy Thủy làm vợ Mộc làm con, thường Giáp mộc ở tháng tứ quý, nói chung không thể ở ngoài Canh kim. Ví như Mộc là cái Cày, có thể cày tơi thổ cuối mùa, không phải Canh kim là cái lưỡi cày, thì sao có thể cày tơi Thổ được, tuy gồm đủ Bính Đinh Quý thủy làm dụng, Canh tất là đứng ở vị trí đầu tiên.


    Nói như vậy là nói đến dụng Canh kim Thiên quan, Mộc ở 3 tháng mùa Thu tính khô héo tàn úa, nguyệt lệnh trở thành Hỏa khố. Nếu như tứ trụ Mộc nhiều mà dụng Bính Đinh, Hỏa vượng Mộc khô, tóm lại không phải thượng cách, ( sẽ tường thuật ở dưới) cho nên tứ trụ Mộc nhiều dụng Canh kim là tuyệt nhất. Tư luận viết: Tử Mộc đắc Kim mà có thành tựu, Canh Tân tất lợi là vậy, sau sẽ trình bầy tường tận về lí lẽ của nó,Mộc ở tháng tứ quý, không rời Canh kim, nó vốn ở Quan tinh. thí dụ như lấy Mộc để cày tơi Thổ, không thể không có lưỡi cày, Kim là nguồn của Thủy, Sát Ấn tương sinh, Giáp mộc căn nhuận, mới có thể khai thông Thổ, gọi là dụng Kim, thực ra dụng Thủy sinh Mộc, lấy Kim làm bổ trợ cho Thủy sinh Mộc, cho nên không lấy Thổ làm vợ Kim làm con, mà lấy Thủy làm vợ, Mộc làm con, Giáp không có Canh thì không linh hoạt. Cho nên Canh không thể thiếu, cuối thu khí hàn, không thể không có Bính Đinh, Thổ táo Mộc khô, không thể không có Nhâm Quý. Ở đây nói về phương pháp phối hợp của Giáp sinh vào 3 tháng mùa Thu, mà lấy Canh làm đầu mối then chốt.


    Thông thường Giáp ở tháng tứ quý, gặp nhiều Mậu Kỷ, chắc chắn là khí mệnh tòng Tài luận, Hỏa làm thê Thổ làm tử.


    Tòng cách lấy thần tòng làm dụng, cho nên lấy Hỏa làm vợ, Thổ làm con.

    Giáp Mộc sinh vào ba tháng mùa Thu, lấy Canh làm quý. Nếu như không chỉ thấy một bầy Bính Đinh thương hại Kim, chẳng qua cũng chỉ là người có văn hóa, có Nhâm Quý phá Hỏa tất là người có học chân thực, không có Thủy phá Hỏa, chi lại thành Hỏa cục, thì chính là Mộc mục nát, có Canh sao có thể góp sức, cô bần tàn tật hạ lưu, nam nữ đều cùng một lý.

    Bây giờ xin trình bầy chi tiết về cách dụng Bính dụng Đinh, dụng Bính Đinh đều không phải là lí lẽ tuyệt diệu, Giáp mộc sinh vào 3 tháng mùa Thu, không xa rời Canh kim, nếu có một bầy Bính Đinh, chi lại thành Hỏa cục, Hỏa vượng Mộc khô, không có Nhâm Quý để cứu, thì Mộc không có sức sống. Tuy có Canh kim, không thể trợ lực, cho nên Giáp mộc đến Thu, khí thế đã tuyệt, tính vốn khô héo tàn úa, ví như gặp Thủy vượng, liền thành mục rữa, không so với Mộc mùa Xuân gặp Hỏa, là Mộc Hỏa cháy sáng, tú khí dâng trào, gặp Mộc nhiều đắc Canh là quý. Cành khô lá héo, được Kim khí loại bỏ, lấy Sát làm sinh, cũng không thể không có Quý thủy để phối hợp, nếu như Hỏa vượng thương Kim, không có Thủy phá Hỏa, nhất định là mệnh cô bần hạ tiện mà tàn phế.

    Có thể có giả Thương quan đắc địa phùng sinh, ở đây nói chính là hợp với Giáp Ất mùa Thu sinh quý là người uy vũ đứng đầu, người dụng Thủy chế Thương quan, lấy Kim làm thê, Thủy làm tử.

    Trụ gặp Bính Đinh mà Hỏa không đương lệnh, cho nên viết là giả Thương quan, đắc địa phùng sinh là địa chi gặp Dần trường sinh, được đất Ngọ ( hỏa), Dần Ngọ Tuất tam hợp hội cục vậy, là người vũ dũng đứng đầu, Nhâm Quý thủy phương Bắc là Ấn vậy. Hỏa vượng Mộc khô, tất Thương quan bội Ấn, mới là đạt quý. Như một mệnh tạo: Mậu Tý Nhâm Tuất Giáp Dần Canh Ngọ. Dần Ngọ Tuất hội cục làm giả Thương quan, ý muốn nói chính là hợp với Giáp Ất sinh vào mùa Thu là người vũ dũng đứng đầu, tất lấy Nhâm thủy chế Thương quan làm dụng, ( Mậu thổ làm Bệnh ) mà không lấy Thương quan làm dụng vậy, lấy Ấn làm dụng, cho nên Quan Sát làm vợ, Ấn làm con.

    Nếu Định Mậu đều đủ, nói chung không gặp Thủy, lại là Thương quan sinh Tài cách, cũng nói có thể phu quý, cách này lấy Hỏa làm Thê Thổ làm tử.

    Mậu cung Tuất là khí đương vượng, Đinh hỏa là thần của Mộ khố, cùng thấu xuất thiên can làm dụng, đó chính là Thương quan sinh Tài cách, Đinh Mậu đồng cung tụ khí, cũng có thể nói rằng phú quý, đây là ngoại lệ, lấy đủ Đinh Mậu, nói chung không gặp Thủy, là điều kiện quan trọng để thành cách, nếu không nói chung lấy dụng Ấn là chính.

    Phàm Giáp mộc sinh tháng 9, Giáp nhiều Canh thấu, phú quý. Canh tàng phú quý ít. Dụng Canh thì kị Đinh hỏa chế phục, sợ rằng khó có phú quý.

  6. #46
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    4,868
    Nếu như trong trụ nhiều Canh, thì lại lấy Đinh là hiếm thấy, là người phú quý. Như năm Canh Thân, tháng Mậu Tuất, ngày Giáp Thân, giờ Nhâm Thân, người có tứ trụ này chủ chủ công danh hiển đạt, có tài năng, nếu không có Canh Bính trụ năm tháng, lại không có Hỏa tinh xuất can, hiếu học mà khó thành danh.

    Trình bày chi tiết ở phần trên với mục đích Giáp dụng nhiều với Canh, với tiết đầu gặp Tỷ Kiêp, không có Canh Tân chế phục chỉ là thường nhân, lí của nó cũng chỉ là một. Nếu như Giáp mà trong trụ nhiều Canh kim, thì lấy Ngọ hỏa là đặc sắc, ở đây nói là Sát thái vượng, lấy Thưc thương chế phục là cần thiết. Như mệnh tạo Canh Thân, địa chi có 3 Thân, Canh kim xuất can, Sát vượng không có Thực thần chế phục là không thể. Cung Thân kim thủy tương sinh, lại được Thủy xuất can, cho nên có thể Dụng thực thần chế Sát. Trích Thiên Tủy viết rằng: Trong cục lộ rõ sức sống đang phơi phới phát triển phồn thịnh, thì thần khí ung dung tâm nguyện thông suốt. Sự thấu lộ của Bính Đinh chính là sự sống đang phới phới sinh sôi phát triển vậy. Cho nên sẽ là người lập công danh hiển đạt. Nếu không thì cũng quay về bể khổ trầm mê oán trách mà thôi. Đến đây là tổng kết về lí luận khi dụng Canh kim.

    Giáp mộc sinh tháng 9, có thể chuyên dụng Đinh hỏa Quý thủy, thấy Mậu thấu can thì quý. Như Mậu Tuất Nhâm Tuất Giáp Tý Mậu Thìn, Tý Thìn thành Thủy cục, Nhâm thủy xuất can, đây là nói đến chính hợp là quý mà rất phù hợp với người uy vũ đứng đầu, lại được Mậu thấu, phối được trung hòa, là mệnh đứng đầu bẳng, gia kế (sinh kế của gia đình) sung túc, giàu có ngàn vàng. Nhưng Canh Đinh không sinh, ra làm quan cũng không vinh hiển.

    Trình bày tường tận Giáp mộc sinh tháng 9 dụng Tài, thích Đinh Quý sinh phù, thấy ở tiết đầu, chuyên dụng Đinh Quý, mừng có Đinh Quý để phối hợp. Mậu thấu phối được trung hòa, lấy Mậu Tài tinh làm dụng. Như mệnh tạo Mậu Tuất, chi thành Thủy cục mà thấu Nhâm thủy, Thủy nhiều lấy Mậu là đặc sắc, Mậu thổ cung Tuất xuất can, dụng Tài tổn Ấn, là mệnh giàu to mà quý nhỏ. Không gặp Đinh Canh, bản thân khó có thể đạt được thuận lợi vinh hiển, đây mới chỉ là luận bề ngoài của nó, kì thực Tài nhiều thân nhược, may mà giữa trụ tháng và trụ ngày kẹp Quý Hợi, giữa trụ ngày và trụ giờ kẹp Ất Sửu Bính Dần Đinh Mão, trước thì dẫn sau thì theo, trong không có hình, Mộc có sinh khí, vận hành Đông Bắc, cho nên chỉ có thành tựu nhỏ mà thôi.

    Nhâm Ngọ, Canh Tuất, Giáp Ngọ, Canh Ngọ.

    Canh Nhâm đều vượng, quý cách nhất phẩm.

    Đây là theo mệnh thừa Tướng họ Chiêmm đời Minh: Ngọ Tuất hội cục, Hỏa vượng Mộc khô, dụng Nhâm thủy tiết Canh chế Hỏa phù thân, chính hợp thành giả Thương quan cách đắc địa, quý mà hợp với câu nói " uy vũ đứng đầu". Xem thêm với mệnh tạo Mậu Tý sẽ tự hiểu.

    Canh Tuất, Bính Tuất, Giáp Tuất, Mậu Thìn.

    Đứng đầu quan võ, phú mà thọ.

    Theo mệnh tạo thì Bính Mậu cùng thấu, lấy lệnh thầnsinh thân, cho nên phú mà thọ, gặp Canh Thất sát, quý nhỏ mà uy vũ.

    Kỷ Sửu, Giáp Tuất, Giáp Tý, Giáp Tý.

    Không có sự bồi dưỡng của Canh, Đinh lại quy khố, tuổi nhỏ bần hàn, về già đại phát. Nhưng cũng chỉ là loại người xoàng xĩnh mà thôi.

    Theo mệnh tạo thì Giáp tọa Ấn Tý, cây già gốc nhuận, đoạt dụng Tài tinh, không có sự bồi dưỡng của Canh, không thể đạt quý, không có Bính Đinh tiết khí, là người tầm thường xoàng xĩnh, lúc tuổi già hành vận Kỷ Tị Mậu Thìn, Tài vượng đắc địa, giàu có đương nhiên.

    Kỷ Sửu, Giáp Tuất, Giáp Tuất, Giáp Tý.

    Hai điểm Đinh hỏa, một vợ một con, ít có y thực, thường nhân mà thôi.
    Theo mệnh tạo này với mệnh tạo trên kém nhau một chữ nhật chi, đều lấy Tài làm dụng, Giáp Tý hoạt Mộc ( mộc sống), Giáp Tuất Mộc khô ( mộc chết), cho nên khác nhau ở chỗ có tình và vô tinh vậy.

    Quý Sửu, Nhâm Tuất, Giáp Ngọ, Nhâm Ngọ.

    Nhâm Quý quá nhiều, Đinh hỏa không thể sản sinh ánh lửa, may mắn được Canh đắc lộc ở Thân, có thể bản thân có thành tích, không mất đi sự phú quý, huynh đệ nhiều mà khỏe mạnh, thê tử sớm đã chuốc hình ( tù tội). Trên đây là lấy từ sách Tạo hóa nguyên thược.

    Ất Mão, Bính Tuất, Giáp Thân, Đinh Mão.


    Sinh giờ Mão ngày 24 tháng 9 năm thứ 5 đời vua Hàm Phong.

    Mệnh Mã Bá Thông: Canh Lộc ở Thân, Giáp Nhận tại Mão, Sát Nhận đều không nắm lệnh, gặp Bính hỏa xuất can, dụng thần lấy lệnh thần sinh Tài, học vấn sâu rộng tuổi thọ được dài.

    Mậu Ngọ, Nhâm Tuất, Giáp Thìn, Canh Ngọ.

    Sinh giờ Ngọ ngày 2 tháng 10 năm thứ 8 đời vua Hàm Phong.

    Mệnh Lương Kính Ngạn: Tài vượng sinh Sát, Canh Đinh Quý phối hợp trung hòa, đương nhiên phú mà còn quý.

    Giáp Tuất, Giáp Tuất, Giáp Dần, Bính Dần.

    Sinh giờ Dần ngày 15 tháng 9 năm thứ 30 đời vua Đồng Trị.

    Mệnh của bậc tiên hiền cách mạng Hoàng Khắc Cường: Thương quan cách vô Ấn, Hỏa vượng Mộc khô, phúc trạch không đủ.

    Bính Tý, Mậu Tuất, Giáp Tý, Canh Ngọ.

    Sinh giờ Ngọ ngày 7 tháng 9 năm thứ 2 đời vua Quang Tự.

    Mệnh Cận Vân Bằng: Tài vượng sinh Sát, mừng Đinh Quý sinh phù, quý là người đứng đầu trong nội các.

    Mậu Dần, Nhâm Tuất, Giáp Tý, Bính Dần.

    Sinh giờ Dần ngày 18 tháng 9 năm thứ tự đời Quang Tự.

    Mệnh Bành Lực Di: giả Thương quan bội Ấn.

    Đinh Hợi, Canh Tuất, Giáp Tý, Canh Ngọ.

    Sinh giờ Tý ngày 10 tháng 9 năm thứ 13 đời Quang Tự.

    Mệnh Hứa Sùng Trí: Mừng một Đinh một Canh, tương chế thành cách.

    Kỷ Sửu, Giáp Tuất, Giáp Tý, Kỷ Tị.

    Sinh giờ Tỵ ngày 16 tháng 9 năm thứ 14 đời Quang Tự.

    Mệnh Trần Cẩm Khu: Hóa thổ cách, Giáp theo Kỷ hóa, Quý thủy trong Tý, có Mậu thổ trong cung Tỵ hợp hóa, phản trợ Tài vượng. Hành vận Hỏa Thổ tất quý.

  7. #47
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,012
    Góp ý:
    TM và Tùng xem lại chỗ này, không đúng nguyên bản trước đây anh đã đưa cho Tùng (bản tiếng Hoa);
    Mộc tính vươn cao không có giới hạn, khí trọng thì muốn kim sử dụng sai khiến, mộc đắc kim, đức tuy cao mà vẫn chịu ràng buộc, luôn thích thổ trọng, đó là lúc gốc rễ cuộn sâu vững chắc, thổ ít là cái họa cành nhánh tốt tươi mà gốc rễ đang nguy (đất ít thì rễ cây không thể phát triển được). Mộc nhờ thủy sinh, tưới ít thì dễ chịu, tưới nhiều thì bị trôi. Giáp Tuất, Ất Hợi là cội nguồn của mộc; Giáp Dần, Ất Mão là quê hương của mộc; Giáp Thìn, Ất Tị là nơi mộc sinh trưởng, đều là Hoạt mộc vậy. Giáp Thân, Ất Dậu mộc thụ khắc; Giáp Ngọ, Ất Mùi mộc tự diệt (Ngọ, Mùi là đất tử, mộ của mộc); Giáp Tý, Ất Sửu kim khắc mộc, đều là Tử mộc vậy. Sinh mộc đắc hỏa mà thanh tú, Bính Đinh như nhau (đều là hỏa); Tử mộc đắc kim mà thành tựu, (gặp) Canh Tân tất có lợi. Sinh mộc thấy kim thì tự làm hại mình, tử mộc thấy hỏa thì tự bốc cháy, không có gió thì cháy hết mới thôi, tình thế này thật hỗn loạn. Gặp thủy biến hóa trở lại nguyên gốc, tình thế đó cũng là tận cùng vậy. Kim mộc cân bằng, cách thành tuyệt đỉnh. Nếu hướng mùa thu mà sinh trưởng, ngược lại bị búa rìu làm tổn thương, bởi sinh mùa thu kị kim trọng.
    Hai chữ Giáp Tuất và Giáp Tý ở trên sai vị trí. Vì Giáp Tý và Ất Hợi mới là nguồn của mộc sinh vì trong có chứa Nhâm Quý thủy; Hai chữ Giáp Tuất và Ất Sửu đi liền nhau bởi vì trong Tuất có Tân kim và trong Ất Sửu cũng chứa Tân kim, thì mới đúng nghĩa kim khắc mộc.

    Có như vậy nó mới phù hợp với câu bên dười, đó là:
    Mộc có phân biệt thành Hoạt mộc và Tử mộc. Lấy 12 cung phương vị mà luận, từ vị trí Trường sinh đến Suy, sức sống của mộc lần lượt được thông suốt; từ Bệnh Tử đến Thai Dưỡng, đa phần mộc bị úa tàn, bởi thế Giáp Thìn, Giáp Dần, Giáp Tý, Ất Hợi, Ất Mão, Ất Sửu đều là Hoạt mộc vậy; Giáp Ngọ, Giáp Thân, Giáp Tuất, Ất Tị, Ất Mùi, Ất Dậu đều là Tử mộc vậy (lấy Giáp Tý, Ất Sửu làm Tử mộc, Giáp Tuất, Ất Tị làm Hoạt mộc, lý lẽ này e không phù hợp, có thể do nói theo nạp âm vậy)
    Cho nên, thật đáng tiếc là " Tam sao thất bổn", khi dịch phải xem thật thận trọng đấy. Tránh để lại hậu họa cho người sau học tập.
    Thân!
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  8. Cảm ơn bởi:


  9. #48
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,303
    Em kiểm tra cả 02 bản tiếng Trung đều như vậy cả. Nhưng như anh lesoi đã phát hiện, Giáp Tuất và Giáp Tý phải đảo chỗ cho nhau. Em đã sửa lại.
    Phản bổn quy chân

  10. Cảm ơn bởi:


 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •