Chào mừng đến với Tử Bình diệu dụng.
Trang 7 của 10 Đầu tiênĐầu tiên ... 56789 ... CuốiCuối
Kết quả 61 đến 70 của 94
  1. #61
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,429
    Tổng luận Ất mộc 3 tháng mùa Thu

    Ất mộc ở ba tháng mùa Thu, kim thần tư lệnh, trước dụng Bính sau dụng Quý, duy chỉ tháng 9 thì chuyên dụng Quý thủy, dụng Bính sợ rằng làm ấm Mậu thổ thành bệnh.

    Ba tháng mùa Thu là lúc kim thần nắm lệnh, dụng hỏa chế Sát là trên hết, sau mới dụng Quý thủy hóa Sát. Tháng 9 thổ táo mộc khô, cần thủy sinh bồi dưỡng, cho nên chuyên dụng Quý thủy.

    Ất mộc tháng 7

    Tháng 7 Ất mộc, Canh kim tư lệnh, Canh tuy gửi tình cảm nơi Ất muội, nhưng can Ất khó hợp chi Canh. Gặp Canh, Ất tất bị thương, hoặc Bính Quý xuất can, lại thêm các trụ có ba Kỷ, bởi ô kim (làm bẩn kim) mà được khoa giáp chấp nhận. Có Kỷ thấu thêm Bính, mới là thượng mệnh. Giáp là vợ, hỏa là con.
    Ất mộc ở tháng 7, hỷ Kỷ thổ làm dụng. Hoặc không thấy Bính Quý, thì Kỹ thổ nhất định không được thiếu, tiếp tục lấy Kỷ thổ làm dụng. Ở đây lấy hỏa làm vợ, thổ làm con, nếu Bính Quý Kỷ đều thấu lộ, là đại phú đại quý.

    Tháng 7, Canh kim sắc nhọn vô địch, Quan cường tựa như Sát, Ất Canh tuy có tình cảm tương hợp, nhưng mộc đến cung Thân, khí đã tuyệt nên khó thắng được sự khắc chế của vượng kim, không thể dụng Quan, gặp Canh xuất can, Ất tất bị thương. Cung Thân, Nhâm thủy trường sinh, thủy dựa vào kim sinh mà có tính xung phá trực tiếp, tuy nói rằng Quan Ấn tương sinh, nhưng cái sinh đó biến thành vô tình, cho nên khi thủ dụng gặp trở ngại tiến thoái lưỡng nan. Ngoài Bính Quý, phải lấy thêm Kỷ thổ, tam Kỷ nghĩa là địa chi gặp Sửu Mùi mà có Kỷ thổ xuất ra can vậy, Kỷ là thấp thổ, nhào trộn cùng với Nhâm thủy, hóa thành bùn nhão, có khả năng bồi dưỡng cho gốc rễ của Ất mộc, làm giảm sự sắc nhọn của Canh kim, cho nên Kỷ thấu phụ thêm Bính Quý mới là thượng mệnh. Bằng không, thà rằng không có Bính Quý chứ không thể không có Kỷ thổ, sự phiêu phù của mộc mà vừa có nắng chiếu vừa có mưa sinh như vậy thì được lợi ích gì? Hoặc hỏi trong trường hợp đó tại sao không dụng Mậu thổ? Chẳng biết rằng Mậu thổ khắc Nhâm, kim liền đả thương mộc, vì vậy ở đoạn Giáp mộc trong tháng 7 có nói rằng: kim nhiều thủy ít, khó lấy Tòng Sát, gặp thổ nhiều chế Nhâm, mới có thể Tòng Sát được. Ất mộc tháng 7, duy chỉ có dụng Kỷ là xảo diệu vô cùng, không có Bính Quý mà dụng Kỷ cũng chẳng mất phú quý, Bính Quý Kỷ đều thấu thành đại phú quý. Gốc Ất mộc kiên cố, mới có thể dụng Quan tinh, phép "Kỷ thổ ô kim"là phát kiến duy nhất chỉ có tại bản sách này, cùng Hợi Mùi hội cục, lý lẽ Kỷ thổ hỗn tạp Nhâm là tương đồng, xem mục Bính hỏa trong tháng 10. Kỷ thấu thêm Bính, lấy Bính Kỷ làm dụng, cung Thân có Nhâm thủy trường sinh, Quý thấu hay không, không có quan trọng. Lấy Bính hỏa làm dụng thì mộc là vợ, hỏa là con, lấy Kỷ thổ làm dụng thì hỏa là vợ, thổ là con.


    Giáp là tiến khí của thủy, sinh ở đất hưu tù, nếu địa chi không có sự trợ giúp của Dần Mão thì cần thấp thổ bồi dưỡng cho gốc cội, cách xem như vậy cùng với Ất mộc đại thể tương thông.


    Hoặc Quý thấu Bính tàng, Canh ít, lúc này không dùng Kỷ thổ, chỉ chấp nhận được tiến cử làm giám thị học sinh. Không có Bính mà Quý thấu, không mất "đao bút môn hộ", tam khảo thành nổi tiếng. Hoặc chi tàng Quý thủy, nhiều Canh, không có hai thần Bính Kỷ, là người bình thường, lại không có Quý thủy thành hạ cách. Dụng Quý thì kim là vợ, thủy là con.


    Ất là thoái khí của mộc, bản khí vốn hưu tù, tất nhiên không giống như Giáp mộc sợ kim tương khắc, đoạn văn trên nói "Kỷ thổ ô kim" là do Nhâm thủy cung Thân không thể sinh Ất mộc, dùng Kỷ thổ nhào trộn cùng Nhâm thủy để bồi gốc cho Ất mộc, làm thành phép thủ dụng cơ bản của Ất mộc trong tháng 7. Nếu tứ trụ không có Kỷ thổ, mà Quý thủy xuất can, ngoại trừ Nguyệt lệnh, cộng thêm không thấy Canh kim, Bính hỏa tàng ở chi, thì không dụng Kỷ thổ mà dụng Quý thủy, nhận Quan Ấn tương sinh cũng không phải không được, chỉ có điều là cách cục bình thường, vẻn vẹn chấp nhận được tiến cử làm giám thị học sinh; không có Bính phối hợp, cách cục lại càng thấp hơn, duy chẳng mất vẻ nho nhã mà thôi. Nếu Quý thuỷ tàng chi, tứ trụ nhiều Canh kim, lúc này nhất định phải dụng hai thần Bính Kỷ, Ất mộc được bồi dưỡng đầy đủ, cây cỏ trở lên tươi tốt, mới có thể biểu hiện tác dụng của nó (xem mục Kỷ thấu thêm Bính bên trên), không có Bính Kỷ, vừa không có Quý thủy, là hạ cách vậy. Dụng Quý tiết Canh sinh mộc, kim là vợ, thủy là con.


    Hoặc sinh giờ Thìn, thành Tòng hóa đúng lúc, đại phú đại quý. Thông thường Tòng hóa cách đều thuận theo thần sinh phù, như hóa kim thì Mậu làm dụng thần, kỵ Bính Đinh nung luyện phá cách. Tòng hóa thì lấy hỏa là vợ, thổ là con, còn lại đều lấy kim là vợ, người vợ nhất định hiền mà đẹp, lấy thủy là con, con cái nhất định được giống cha, nhưng kỵ hình xung phá hại, tức chủ vợ chuốc lấy hình phạt.


    Chỗ này lý lẽ dễ hiểu, chẳng những Ất mộc trong tháng 7 đã vậy, mà thập can tương hợp gặp giờ Thìn, hóa khí nguyên thần đều thấu xuất. Ất mộc nhật nguyên sinh giờ Thìn, nhất định là giờ Canh Thìn vậy, tháng 7 kim thần tư lệnh, hóa kim đúng lúc, chủ đại phú quý. Phàm Tòng hóa cách, khí thế thiên vượng ở một phương, lấy khí thế toàn cục làm chủ, không lấy nhật nguyên làm chủ, hóa thần hỷ vượng, do đó lấy sinh ra hóa thần làm dụng. Hóa kim lấy thổ làm dụng, do đó lấy hỏa làm vợ (chỗ này là Hóa khí cách không phải là Tòng Sát cách, tòng cách thì lấy chính thần phải tòng theo làm dụng, tương ứng thổ thê kim tử). Ất Canh tương hợp, phu thê nhất định hòa thuận, Quý có thể sinh Ất, con cái nhất định hiền tài mà hiếu thuận. Thấy Dần Tị thì hình xung, hỏa thổ vượng địa, khắc thương kim thủy, hình thê khắc tử, lý lẽ là rõ ràng, chính là phép luận mệnh thông thường vậy.


    Canh Ngọ/ Giáp Thân/ Ất Mão/ Đinh Sửu


    Phú tăng, ở đây nguyên nhân bởi Canh vượng, không có Bính hỏa.

    Bình chú: Tăng đạo cách ly trần thế, tu hành kiên trì khổ hạnh, bát tự nhất định rất thanh thuần mà cận kề thiên khô, Trích Thiên Tủy nói rằng: Một cục mà thanh đến cực điểm, khổ nhân phàm là vậy, nếu mở rộng đạo pháp làm lợi cho chúng sinh, mà được cung kính tin tưởng và ngưỡng mộ, không ra khỏi phạm vi vận mệnh, thì cùng thế tục không có phân biệt. Mệnh này Canh vượng mà không có Bính, quý khí không đủ, Ất mộc tọa Mão, mộc mùa thu có căn, Canh kim xuất can mà có Đinh hỏa chế, phối hợp thích hợp, đương nhiên làm hòa thượng mà giàu có rồi.


    Mậu Ngọ/ Canh Thân/ Ất Sửu/ Mậu Dần

    Tri Huyện, hóa cách, vợ hiền con được như cha.

    Bình chú: Tứ trụ này Ất Canh tương hợp mà sinh giờ Dần, chi năm lại thấy Ngọ hỏa là nghịch với vượng khí, e rằng không thể hóa kim, cần lấy Quý thủy trong Sửu làm dụng thần, kim thủy cung Sửu đắc dụng, nên vợ hiền con ngoan.


    Tân Tị/ Bính Thân/ Ất Hợi/ Kỷ Mão.
    Giờ Mão ngày 27 tháng 7 năn Đạo Quang thứ nhất.

    Mệnh Lý Hãn Tấn: Bính Kỷ xuất ra can, chức vị tới Tổng đốc.


    Bính Tuất/ Bính Thân/ Ất Mùi/ Canh Thìn. Giờ Thìn, ngày 15 tháng 7 năm Đạo Quang thứ 6

    Mệnh Lê Bồi Kính: Canh kim xuất can, dụng Bính Tị, chức vị tới Thượng Thư, khi chết được thụy hiệu Văn Túc.


    Bính Dần/ Bính Thân/ Ất Dậu/ Mậu Dần.
    Giờ Dần ngày 29 tháng 7 năm Đồng Trị thứ 5

    Mệnh Đoạn Hồng Kỳ: lưỡng Bính lưỡng Dần, Sát vượng chế cường, tiếc rằng không có Quý thủy, vận nhập Bắc phương, chức vị tới Chủ tịch tỉnh, trọng trấn vùng Tây Bắc.


    Mậu Tý/ Canh Thân/ Ất Sửu/ Nhâm Ngọ. Giờ Ngọ, ngày 15 tháng 7 năm Quang Tự thứ 14

    Mệnh vua Đỗ Nguyệt Sênh: Ất Canh tương hợp, không có Thìn mà giờ phùng Ngọ hỏa, hóa kim có bệnh, mặc dù có Tý xung xa, chỉ làm giả hóa, vận hành Bắc phương, bệnh do khứ Ngọ, nhất thời tuấn kiệt, tốt nhất là Tý vận (trụ này sợ giờ Tân Tị).
    Phản bổn quy chân

  2. Cảm ơn bởi:


  3. #62
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,429
    Ất mộc tháng 8

    Ất mộc ở tháng 8, cỏ chi cỏ lan lúa mạ trồng trọt đều sút kém, dùng cây Đan Quế làm thành Ất mộc, do tiết Bạch Lộ trôi qua, nhụy hoa Quế chưa nở, chuyên dụng Quý thủy, dùng để sinh cho Quế. Nếu sau Thu Phân, hoa Quế đã nở, lại cần hướng về mặt trời, nên dụng Bính trước, sau dụng Quý thủy, Bính Quý lưỡng thấu, khoa giáp danh thần.

    Ất mộc mùa Xuân như cỏ chi cỏ lan, mùa Hạ như mạ non, mùa Thu như Đan Quế, đều là từ ngữ ví von. Tóm lại, mộc khí suy kiệt, tính chất nhu nhược, ba tháng mùa Thu kim thần nắm lệnh, mộc ở vị trí Tuyệt Thai, không thể không dụng Ấn hóa Sát, trước Thu Phân chuyên dụng Quý thủy, sau Thu Phân hàn khí dần tăng lên, hàn mộc hướng dương, ngoài dụng Quý hóa Sát, càng cần dụng Bính. Cả Bính Quý đều thấu thì lấy Quý hóa Sát bồi dưỡng mộc, rồi lấy Bính làm dụng vậy. Quý như mưa lộ, Bính tựa thái dương, âm dương tương trợ lẫn nhau, làm sinh thú của Ất mộc tràn đầy thêm.

    Hoặc chi thành kim cục, cần có Đinh hỏa ám tàng để chế, không có Đinh sợ rằng mộc bị kim đả thương; không có Quý, không có hỏa, là người mang bệnh vậy.

    Ất mộc ở tháng 8, lấy Bính Quý cùng dụng làm quý, nếu Tân kim xuất ra can, hoặc chi thành kim cục, thì cần có Đinh hỏa chế ngự kim, Quý Tân Đinh đều thấu. Thực Thần chế Sát, quý hiển, đa phần thiên về vũ lực, ví dụ xem mệnh Diêm Thang bên dưới. Nhưng không có Đinh Quý chế hóa, thì mộc bị kim thương, là mệnh tàn tật chết yểu, cái gọi "Thu Ất phùng kim, phi bần tức yểu" là như vậy.

    Nếu có Quý thủy, như con có mẹ, người như thế cả đời sung túc, nếu Quý xuất can, làm tú tài suốt kiếp

    Hoặc Bính Quý lưỡng thấu, gặp Mậu hỗn tạp lộ ra, bất quá hiển chức theo đường lối riêng.

    Chỗ này luận trước tiết Thu Phân, Ất mộc suy kiệt, lại gặp tuyệt địa, Tân kim Thất Sát đang vượng, gặp Quý thủy hóa Sát, mộc được bồi thêm, như con có mẹ vậy, cho nên trụ có Quý thủy, là người đầy đủ sung túc có dư. Quý thủy xuất ra can, tiểu quý mà chẳng mất đi y phục thanh câm (1). Bính Quý cùng thấu, mệnh đại phú quý, cho dù gặp Mậu hỗn tạp thấu ra, cũng chẳng nhỡ việc hiển chức theo đường hướng riêng, bởi vì giữa mùa Thu, Mậu Quý không thể hóa hỏa, Mậu thổ được Quý thủy nhuận ướt, trái lại có thể bồi gốc cho mộc, chỉ có điều dụng Bính Quý không thanh, cho nên chủ theo đường hướng khác vậy.

    Sinh sau Thu Phân, có Bính mà không có Quý, có thể được phép tiểu phú quý; có Quý mà không có Bính, danh lợi như hoa tàn; hoặc trong tứ trụ có Bính Quý tàng ở địa chi, như thường nhân giữa tầng lớp trí thức, không có Bính Quý thành hạ cách.

    Chỗ này luận sau tiết Thu Phân, cũng lấy Bính Quý đều hiện ra làm thành thượng cách. Song, khí Thu dần về cuối (mùa), giữa trời đất khí ẩm ướt hóa thành sương, cho nên trong Dậu tự có Quý thủy, tứ trụ tuy không thấy Quý, không phải gây trở ngại lớn, hàn mộc hướng dương, lấy Bính trước tiên, có Bính mà không có Quý, vẫn có được tiểu phú quý. Có Quý mà không có Bính, hàn mộc chẳng có sức sống, danh lợi đều hư không. Bính Quý tàng địa chi, cần vận hành Nam phương, dẫn xuất Bính hỏa cũng phú quý. Không có Bính Quý, mộc bị kim thương, là mệnh bần tiện, chết yểu.

    Hoặc Quý ở chi, Bính thấu can giờ, gọi là "mộc hỏa văn tinh", nhất định chủ đạt đến sự thông suốt, sinh từ Thu Phân trở về sau mới đúng như vậy.

    Quý thủy tại địa chi, là Sát Ấn tương sinh, Bính thấu can giờ, là mộc hỏa tiết tú, tên gọi Văn tinh, Bính Quý cùng dụng mà không tương ngại, thành thượng cách đứng đầu.

    Hoặc sinh ở nửa tháng trước, vô Quý thì mộc khô, tạm thời dùng Nhâm thủy, bằng không thành khô mộc chẳng tác dụng, là người bình thường, tứ trụ gặp nhiều Mậu Kỷ, cũng chủ bần tiện, là hạ cách.

    Sau Thu Phân có thể không cần Quý, trước Thu Phân thì không thể không có Quý được, nếu không có Quý, tạm dùng Nhâm thủy. Lúc kim thần đang vượng, không có Ấn Kiêu thì nhất định sẽ bị thương vậy, không có Ấn do vậy thành hạ cách, có Ấn mà gặp nhiều Mậu Kỷ, Ấn bị Tài phá, cũng là mệnh bần tiền hạ cách. Hiếm thấy Kỷ thổ, Tài không phá Ấn, hoặc thấy Thìn Sửu thấp thổ mà đều không gặp trở ngại, cần chú trọng hai chữ "đa kiến" (gặp nhiều).

    Dụng can Quý, thì kim là vợ thủy là con, vợ hiền con giống cha; dụng Bính thì mộc là vợ hỏa là con; dụng Nhâm thì kim là vợ thủy là con. Giống tháng 7 ở trên.

    Kỷ Tị/ Quý Dậu/ Ất Sửu/ Giáp Thân

    Mệnh Tòng Sát, thiêm sĩ (đều thuộc quân nhân).

    Bình chú: Tứ trụ này chính là Giả Tòng cách, Quý thủy xuất can, Kỷ thổ kề bên khắc chế, Giáp mộc ở trụ giờ, không thể chế Tài mà hộ Ấn, cho nên biến thành giả tòng. Trích Thiên Tủy bổ chú tại mục Tòng hóa ghi mệnh của thương nhân Ngô Tinh Viên cùng mệnh này tương đồng, vận hành Mậu Thìn, khứ Quý thủy mà đạt được sự giàu có. Vì mệnh tạo trung đẳng phải tùy theo hoàn cảnh mà phát triển, hoặc chính trị hoặc thương nhân, phú quý đều không thể to lớn được.

    Quý Dậu/ Tân Dậu/ Ất Tị/ Đinh Hợi

    Sinh trước Thu Phân, Quý thủy xuất can, Bính hỏa tàng Tị, Quý có gốc, vừa bảo vệ âm Sát trọng, làm quan đến Thượng phẩm.

    Bình chú: Mệnh này Quý thấu Bính tàng, Tân kim xuất ra can, chi thành kim cục, Sát vượng có Đinh hỏa thành chế phục, làm quan đến cực phẩm, không phải vô cớ mà như vậy.

    Ất Dậu/ Ất Dậu/ Ất Dậu/ Giáp Thân.

    Tòng Sát cách, Thượng thư.

    Bình chú: Mệnh này Quý thủy không thấu, Tòng Sát là chẳng thể nghi ngờ. Các mệnh bên trên thuộc Tạo Hóa Nguyên Thược.

    Ất Hợi/Ất Dậu/ Ất Dậu/ Ất Dậu

    Mệnh Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt: Tòng Sát cách.
    Phản bổn quy chân

  4. Cảm ơn bởi:


  5. #63
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,429
    Giáp Thân/ Quý Dậu/ Ất Mão/ Bính Tuất. Giờ Tuất, ngày 25 tháng 7 năm Quang Đạo thứ 4.

    Mệnh Ngục Chiêu Bính Quý đều thấu, làm quan tới Tuần phủ.

    Mậu Ngọ/ Tân Dậu/ Ất Mão/ Bính Tuất. Giờ Tuất, ngày 13 tháng 8 năm Hàm Phong thứ 8.

    Mệnh Lục Vinh Đình: Bính Tân đều thấu mà không hợp, lại có Đinh hỏa tàng trong Ngọ, địa vị cao quý làm Lưỡng Quảng tuần duyệt sứ (2).

    Quý Dậu/ Tân Dậu/ Ất Sửu/Tân Tị. Giờ Tị, ngày 19 tháng 7 năm Đồng Trị thứ 20.

    Mệnh Hứa Thế Anh: Thấu Quý, tàng Bính, dụng Bính hỏa, vận hành Nam mới trở thành cao quý, tiếc rằng không có Đinh hỏa, lực chế Sát không đủ.

    Ất Hợi/Ất Dậu/ Ất Hợi/ Ất Dậu. Giờ Dậu, ngày 11 tháng 8 năm Quang Tự thứ nhất.

    Mệnh Trương Hồ: Giáp Khâu cách, vô Quý, tạm dùng Nhâm thủy, thiên can nhất khí, địa chi lưỡng thanh, địa vị đến Bộ trưởng Tài chính, chết ở năm Đinh Sửu, thọ 62 tuổi.

    Đinh Sửu/ Kỷ Dậu/ Ất Mùi/ Tân Tị. Giờ Tị, ngày 13 tháng 8 năm Quang Tự thứ 3.

    Mệnh Trương Thế Kiệt: Đinh Tân lưỡng thấu, chi thành kim cục, Quý thủy trong Sửu yếu ớt, sinh trước Thu Phân, xuất thân gia đình giàu có, hành thủy vận đại phú quý.

    Tân Tị/ Đinh Dậu/ Ất Mão/ Kỷ Mão. Giờ Mão, ngày 25 tháng 7 (nhuận) năm Quang Tự thứ 7.

    Mệnh Trương Kính Nghiêu: Thu mộc thịnh, Sát cao có chế, quý hiển thành Đô đốc. Thời nhỏ gặp Ngọ vận là tốt nhất, vận sau khi trưởng thành không đắc địa, cho nên lên xuống bất thường, vận Thìn năm Quý Dậu, bị ngược đãi mà mất mạng.

    Tân Tị/ Đinh Dậu/ Ất Hợi/ Mậu Dần. Giờ Dần, ngày 16 tháng 8 năm Quang Tự thứ 7

    Mệnh Trần Gia Mô: Tân kim xuất can, chi thành kim cục, hỷ có Đinh thấu, Bính tàng, Quý tuy sinh ở giờ Tý trước Hàn Lộ, sợ hỏa thái vượng, không có Quý tạm dùng Nhâm thủy, hành vận Nhâm Quý mà hiển quý.

    Quý Mùi/ Tân Dậu/ Ất Dậu/ Đinh Hợi. Giờ Hợi, ngày 8 tháng 9 năm Quang Tự thứ 9

    Mệnh Diêm Tích Sơn: Chi tụ hai Dậu, Tân kim xuất can, hỉ có Quý Đinh cùng thấu, hành Nam phương hỏa vận, đại phú quý.

    Quý Mùi/ Tân Dậu/ Ất Hợi/ Đinh Hợi. Giờ Hợi, ngày 28 tháng 8 năm Quang Tự thứ 9

    Mệnh Thang Hương Minh: Tân Quý Đinh cùng thấu, Mậu vận quý hiển là, Đô đốc, so với mệnh họ Diêm chỉ khác nhau một chữ, lưỡng Hợi Nhâm thủy thái vượng, tiết khí Thất Sát, vì thế Mậu vận khứ đi bệnh vậy.

    Mậu Tý/ Tân Dậu/ Ất Mùi/ Bính Tý. Giờ Tý, ngày 16 tháng 8 năm Quang Tự thứ 14

    Mệnh Thương Chấn: Bính Tân cùng thấu không hợp, Quý thủy ám tàng, hành Bính vận, quý hiển làm Chủ tịch tỉnh Sơn Tây.

    Bính Thân/ Đinh Dậu/ Ất Hợi/Mậu Dần. Giờ Dần, ngày 13 tháng 8 năm Quang Tự thứ 22

    Mệnh Hồ Nhược Ngu: Tân kim không thấu, lưỡng Nhâm tiết nhược Tân kim, chỗ này không dụng Sát, Bính Đinh đều thấu, mộc hỏa văn tinh, cách cục Thương Quan sinh Tài, Thu mộc thấy hỏa, nhất định phải "bội Ấn" (đeo Ấn) , lấy Ấn làm dụng vậy.

    Sách nói rằng: Thu Ất gặp kim, không bần cũng chết yểu, Ất mộc sinh mùa thu kỵ căn khô, căn gốc đã khô héo, nghèo khổ đến già, (lời này nói mộc ở ba tháng mùa Thu, không thể không có thủy vậy). Lại nói: Giáp Ất gặp cường kim, hồn về tây phương, thấy rồng (Giáp Ất) gặp Đoài vượng (kim), vừa bần vừa tiện. Lại nói rằng: Ất mộc sinh ở tháng Dậu, chớ gặp Tị Dậu Sửu, phú quý cung Khảm Ly, nghèo túng nơi Thân Dậu, mộc gặp kim vượng đã tổn thương, tái gặp chốn kim hương chẳng phải tổn thọ sao (lời này Thu mộc không thể không có Bính Quý vậy).

    Giáp Ất ở ba tháng mùa Thu, tính mộc nội liễm (thu lại bên trong), cành lá điêu tàn, tốt nhất là nên cắt bỏ bớt đi, lấy Sát mà sinh, mới thành vật liệu làm xà làm cột, vừa không thể không có Bính Đinh Quý thủy để phối hợp giữa hai bên, Quý thủy hóa kim bồi gốc cho mộc, Đinh hỏa chế kim không còn thương tổn mộc tính, mà Giáp thích hợp với Canh, Ất thích hợp với Tân, chế Sát thì Đinh hỏa đứng đầu, sau là Bính hỏa, nếu thân nhược chỉ cần có Quý thủy thấu xuất sẽ không sợ khắc chế, Sát Ấn tương sinh, Giáp Ất trước mắt có chỗ dựa thì không còn e ngại gì nữa. Tử Bình Chân Thuyên nói rằng: Thu mộc thịnh, Thất Sát thấu mà có chế, không có thì chẳng quý, vì thế kim thần Thất Sát không giống với các thần khác, xem nhiều mệnh tạo bên trên để xác thực thêm, thực ra câu "Thu Ất phùng kim" đã bị bản sao Tạo Hóa Nguyên Thược lược bỏ, nên đặc biệt ghi chép vào đây.

    Bởi vì Giáp là mộc hướng vượng, cho nên sợ nhược, Ất là mộc hướng tàng, bản tính suy yếu, do vậy không sợ nhược, chỉ cần thông căn gặp Quý, lập tức không sợ khắc chế, duy Tân kim phải xuất can, lại cần có Bính Đinh chế kim, không có thì chẳng quý, thậm trí dụng thủy dụng hỏa, phải xem tứ trụ mà phối hợp, hỏa vượng thì dụng thủy, thủy nhiều thì dụng hỏa, khỏi cần phân định nửa tháng trước nửa tháng sau làm gì.
    Phản bổn quy chân

  6. Cảm ơn bởi:


  7. #64
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,429
    Ất mộc tháng 9

    Tháng 9, Ất mộc cành lá khô rụng, tất nhờ cậy Quý thủy mà sinh dưỡng, nếu gặp giờ Giáp Thân thì gọi là "Đằng la phồn Giáp" (cây Tử Đằng cuốn quanh thân Giáp), cả Thu lẫn Đông.

    Tháng 9, khí mùa Thu tiêu điều, táo thổ nắm lệnh, Ất mộc không có Quý thủy sinh dưỡng, thì thành mộc khô, cho nên nhất định phải lấy Quý thủy đầu tiên, nếu Ất thông căn Hợi Dần, đắc Trường sinh Lộc vượng thì không lấy điểm này để luận, Tài Quan Thực Thương, đều có thể thủ quý vậy. Ất thành mộc tuyệt, thấy Giáp thì khí trở nên sinh vượng, với Giáp không khác biệt, gọi tên "Đằng la phồn Giáp" là nói giờ Giáp Thân, Thân thành tuyệt địa của mộc, là lúc khí mộc suy kiệt nhất, tuy nói ở mùa Thu mùa Đông là thời điểm mộc khí suy tuyệt, nhưng cũng có thể dựa theo Giáp mà tốt tươi vậy. Phàm can âm thấy Kiếp thấu, thông căn Trường sinh Lâm quan, khí biến thành sinh vượng, phải luận theo can dương, ngũ hành đều như vậy, không chỉ riêng Ất mộc.


    Nếu trong trụ thấy Quý thủy, lại gặp Tân kim là nguồn sinh thủy, nhất định đảm đương khoa giáp; hoặc hữu Quý vô Tân, chỉ là thường nhân, hữu Tân vô Quý, là kẻ bần tiện; hoặc tứ trụ nhiều Nhâm, có điều khó làm trôi Ất, thường là người nổi bật trong những kẻ tầm thường.


    Tiếp nối đoạn văn trên, tháng 9 táo thổ đang vượng, Quý thủy dễ bị khô cạn, có Quý không có Tân, Quý thủy không có nguồn, có Tân không có Quý, Ất mộc khô héo, đều khó hiển đạt. Thổ vượng thừa quyền, dù tứ trụ nhiều Nhâm thủy, cũng khó làm cho Ất bị trôi, mộc khô dụng thủy, thủy nhiều dụng Mậu, cũng là loại nổi bật trong đám người tầm thường.


    Hoặc Hợi nhiều Mậu thổ (3), lại thấu thiên can, lấy Tòng Tài để xem, không có Tỉ Ấn thì mới tốt, có Tỉ có Ấn là phú ốc bần nhân.


    Ba tháng mùa Thu mộc khí hưu tù, thổ nhiều thì Tòng Tài, quả là lý lẽ hiển nhiên, nhưng không thể không có Tỉ Ấn, thấy một Tỉ Ấn, chỉ lấy Tài đa thân nhược để xem, không luận tòng.


    Dụng Quý thì kim là vợ thủy là con, nhưng chuyện con cái gian nan, do cuối mùa thổ khắc chế nên vậy.
    Nếu Quý làm dụng, vì thế kim là vợ thủy là con, Quý thủy bị thổ ở cuối mùa khắc chế, do đó con cái mới gian nan.

    Nhâm Tuất/ Canh Tuất/ Ất Sửu/ Canh Thìn.


    Lấy Quý thủy trong Thìn Sửu làm dụng, Sửu Tuất hình xuất Tân kim thì có thể được phép khoa bảng, nhưng mà Quý Tân đều tàng chi, thật là khó gặp gỡ, chỉ có thể ngắm nghía chức ngũ phẩm, là người ngang bướng, trong cái thuận lợi có cái không may.


    Giáp Dần/ Giáp Tuất/ Ất Dậu/ Bính Tý.


    Đằng la phồn Giáp, Quý thủy đắc Lộc, khoa giáp danh thần.

    Tân Sửu/ Mậu Tuất/ Ất Mão/ Quý Mùi.


    Tân Quý lưỡng thấu, mộc cục phá Mậu, 12 tuổi hành Dậu vận liên tiếp đỗ đạt, hành Quý vận vào nội các, chức vị tới Thượng Thư.


    Canh Thìn/ Bính Tuất/ Ất Hợi/ Canh Thìn.


    Năm thấu Canh kim, chi thấy hai Thìn, có thể lấy hợp hóa, trong gian dối mà thủ quý, nhưng hóa không gặp mùa, chẳng cô độc nhưng chịu hình, thọ không quá 50 tuổi.


    Bình chú: Hợp hóa nhỡ mùa, Bính hỏa Thương quan phá Canh, chỉ có thể dụng Bính hỏa, nhưng Ất cùng Canh hợp, lại không thể vứt bỏ Canh kim, quả là chẳng đếm xỉa gì đến dụng thần, vẫn may Bính thấu Nhâm tàng, tuy quý hiển nhưng tính tình gian hiểm, bởi vậy mới nói "trong gian dối mà thủ quý".

    Canh Thân/ Bính Tuất/ Ất Sửu/ Đinh Hợi.


    Nghèo khổ, thuở nhỏ gặp hình.


    Ất Mùi/ Bính Tuất/ Ất Hợi/ Bính Tý. Giờ Tý ngày 19 tháng 8 năm Đạo Quang thứ 15

    Mệnh Đào Mô: Bính thấu Quý tàng, chuyên dụng Quý thủy trong Tý, là Lục Ất Thử quý cách, chức vị tới Tổng đốc.


    Bính Dần/ Mậu Tuất/ Ất Hợi/ Đinh Hợi. Giờ Hợi ngày 19 tháng 9 năm Đồng Trị thứ 5


    Mệnh Thẩm Kim Giám: sinh sau Sương Giáng, Dần Hợi hợp, mộc phá Mậu, lấy Thực Thương làm dụng, Giáp Thìn vận nhậm chức Tỉnh trưởng Chiết Giang.


    Đinh Mão/ Canh Tuất/ Ất Hợi/ Đinh Sửu. Giờ Sửu ngày 25 tháng 9 năm Đồng Trị thứ 6


    Mệnh Lô Vĩnh Tường: sinh trước Sương Giáng một ngày, chi hội Hợi Mão, Hợi Sửu kẹp Tý quý hiển, lưỡng Đinh chế Canh, vận Giáp Thìn, Canh kim chẻ Giáp dẫn Đinh, hiển quý thành Đô đốc Chiết Giang.
    Phản bổn quy chân

  8. Cảm ơn bởi:


  9. #65
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,429
    Nhâm Thân/ Canh Tuất/ Ất Mão/ Ất Dậu. Giờ Dậu ngày 4 tháng 10 năm Đồng Trị thứ 11

    Mệnh Thái Thành Huân: chi hợp Thân Dậu Tuất Tây phương, tứ trụ không có hỏa, vận tới Bính, hiển quý làm Đô đốc Giang Tây.

    Kỷ Mão/ Giáp Tuất/ Ất Hợi/ Kỷ Mão. Giờ Mão ngày 4 tháng 9 năm Quang Tự thứ 5

    Mệnh Trương Thiệu Tăng: Hợi Mão hội cục, Giáp mộc xuất can, thân Tài lưỡng vượng, mượn Thực Thương để thông quan, tứ trụ không có hỏa, trở thành khuyết điểm, tới cuối Ngọ vận, Đinh hỏa tiết mộc sinh Tài, được chức thủ quỹ, bởi cung Hợi mộc khí Trường sinh, Nhâm thủy Lâm quan, không sợ mộc khô.

    Nhâm Ngọ/ Canh Tuất/ Ất Mùi/ Đinh Sửu. Giờ Sửu ngày 12 tháng 9 năm Quang Tự thứ 8

    Mệnh Từ văn Tuấn: chuyên dụng Nhâm thủy, ở trên nhận được sự che chở của mẹ hiền, vận hành Bắc địa, làm Trưởng phòng quân nhu Chiết Giang, thay quyền ủy viên Lý Diêm.

    Canh Dần/ Bính Tuất/ Ất Dậu/ Kỷ Mão. Giờ Mão ngày 18 tháng 9 năm Quang Tự thứ 16

    Mệnh Đường Sinh Trí: tháng 9, Ất mộc, không rời Quý thủy, mộc hỏa thổ kim đều đủ cả, cần thủy phát ra từ Thai nguyên Đinh Sửu, trong Sửu có Quý thủy dư khí, căn bản cơ hội còn ẩn giấu.

    Tân Mão/ Mậu Tuất/ Ất Mùi/ Mậu Dần. Giờ Dần ngày 4 tháng 10 năm Quang Tự thứ 17

    Mệnh Tôn Khoa: Mệnh tạo này quả thực không cần nghiên cứu. có chỗ nói: Tân Mão/ Mậu Tuất/ Kỷ Mão/ Bính Dần, chẳng biết cái nào mới đúng.

    Quý Tị/ Nhâm Tuất/ Ất Tị/ Mậu Dần. Giờ Dần ngày 26 tháng 9 năm Quang Tự thứ 19

    Mệnh Chu Hữu Khanh: Tài Ấn giao nhau dở tệ, dụng Nhâm Quý thủy, cần kim để thông quan, tứ trụ không có kim, làm thành khuyết điểm, vận hành Tân Dậu, Canh Thân, bên dưới phù hộ nên tốt nhất, tới Kỷ Mùi, nhu thổ không đủ dùng ngăn thủy, chức vị tới Cục trưởng Cục Đường bộ, Mậu vận qua đời.

    Chú thích

    (1) Y phục thanh câm: Áo khép cổ. Kinh thi có câu: Thanh thanh tử câm (cổ áo chàng xanh xanh), là nói cái áo của học trò xanh xanh, vì thế nên sau gọi các ông đỗ tú tài là thanh câm. (theo Thiều Chửu)

    (2) Lưỡng Quảng: chỉ hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, Trung Quốc (theo Lạc Việt từ điển)

    (3) Nguyên văn bản Hán văn này là "Hợi nhiều Mậu thổ", tuy nhiên tại bản Hán văn khác có ghi "chi nhiều Mậu thổ", thiết nghĩ chữ "chi" là hợp lý hơn cả. (ND)
    Phản bổn quy chân


  10. #66
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,429
    Tổng luận Ất mộc trong 3 tháng mùa Đông

    Ất mộc trong tháng 10
    Tháng 10, Ất mộc, Bính không thụ khí, Nhâm thủy tư lệnh, Bính thành tôn quý, hoặc Nhâm nhiều, dụng Mậu thổ

    Mộc tới tiểu dương xuân (tiết tháng 10), bên ngoài cảnh tượng tàn lụi, nhưng bên trong sinh khí chuyển động, lớp vở trong trổ ra, chính là tượng sinh khí dần dần manh nha, mộc khí Trường sinh cũng tại thời điểm này. Bính hỏa tới Hợi là tuyệt địa, bởi vậy mới nói Bính không thụ khí, Đông mộc hỷ được dương hòa để phát triển tươi tốt, hàn mộc hướng dương, tất lấy Bính hỏa làm dụng. Nhâm thủy thái vượng, trái lại khiến sinh cơ gặp trở ngại, lấy Mậu thổ để chế, bởi vậy mới nói Nhâm nhiều dụng Mậu thổ, Nhâm thủy chính là thần đương lệnh, dù không thấu cũng vẫn vượng.

    Bính Mậu cả hai đều thấu, nhất định có thể khoa giáp, hữu Mậu mà vô Bính, dù không khoa giáp cũng vào hàng nho sinh, chi tàng Bính hỏa gặp hỏa thổ vận, tất được bổng lộc chức quyền, nếu không ứng nghiệm, hẳn bạc bẽo về phong thổ.

    Ất mộc ở tháng 10, Bính hỏa làm tôn quý, Mậu thổ là dược khứ bệnh, có được cả hai nhất định giúp nhau làm dụng, có Mậu không có Bính, phú mà không quý, duy chỉ không mất vẻ nho sinh mà thôi, chi tàng Bính hỏa, vẫn là Bính Mậu cùng dụng.

    Hoặc thủy nhiều không có Mậu, Ất tính phiêu phù trôi nổi, là kẻ thích lêu lổng chơi bời, không thấy Bính Kỷ thì vợ con khó vẹn toàn, hoặc có một điểm Nhâm thủy, thấy Mậu là thường nhân.

    Tháng 10, Nhâm thủy nắm lệnh, tính Ất nhu nhược, thấy thủy đa khiến Ất trôi nổi phiêu phù, không có Mậu để cứu, thành kẻ lêu lổng. Kỷ thổ tuy không thể chế Nhâm, phối hợp Nhâm thủy cũng có thể bồi căn gốc cho mộc, vì vậy không có Bính Mậu thì nhất định dụng Bính Kỷ, lời này ứng việc Ấn nhiều lấy Tài tổn Ấn để cứu giúp vậy. Nếu chỉ vẻn vẹn một điểm Nhâm thủy tại cung Hợi, thì khỏi cần thấy Mậu Kỷ, hàn mộc hướng hướng, chuyên dụng Bính Đinh mới được, thấy Tài phá Ấn, trái lại là thường nhân, cần lấy Giáp để cứu, xem đoạn bên dưới.

    Thấy nhiều Mậu thổ, cũng là không ổn, có Giáp thấu xuất chế Mậu, có thể được phép trở thành kẻ sĩ tài năng, nhưng thích sinh sự gây rối, gây ra tranh tụng phi pháp, tuy không phải tú sĩ, nhưng giao tiếp rộng, khéo nói; hoặc trụ giờ tháng đều thấu Giáp mộc, nhiều Nhâm không có Canh Bính Mậu thì bần tiện, nam nữ lý lẽ giống nhau

    Thấy nhiều Mậu thổ thành thủy ít thổ nhiều vậy, cần có Giáp mộc chế Mậu để cứu, chỉ Tỉ Kiếp Sát Tài, tuy tài năng xuất chúng, nhưng không tránh khỏi cậy tài năng mà sinh thị phi, Nhâm nhiều dụng Mậu, Mậu nhiều dụng Giáp, giờ tháng đều thấu Giáp mộc, cần dụng Canh kim, ở đây tất cả đều là tùy bệnh mà dụng dược vậy. Tóm lại, hàn mộc hướng dương, không rời xa Bính hỏa, có bệnh mà không có dược cứu, nhất định là mệnh bần tiện, nam nữ giống nhau vậy.

    Chi thành mộc cục, đương dịp tiểu dương, lại cùng xuân mộc đồng vượng, gặp tiếp Quý thủy, lấy Mậu để tôn sùng, còn thêm Bính xuất can, có thể được phép khoa giáp, nếu không có hai chữ Bính Mậu sẽ tự thành tự bại, cuối cùng không phải khí của đại thụ, cho nên Ất mộc tháng 10 nhất định kiêm cả Bính hỏa làm dụng.

    Cung Hợi mộc khí Trường sinh, song mộc không hề vượng, hoặc thấy Mão Mùi hội cục, thì vượng giống xuân mộc, (với cung Tị Canh kim giống nhau, thấy Dậu Sửu hội cục thì vượng), mộc vượng không nhọc Ấn sinh, thấy Quý âm thấp, trái lại gây trở ngại sinh cơ, nhất định cần lấy Mậu chế, hàn mộc hướng dương, cần có thêm Bính hỏa xuất can, khoa giáp có thể được phép, như mệnh Vương Hồng Nho nhà Minh (Kỷ Mão/ Ất Hợi/ Ất Mùi/ Bính Tuất), được sự giúp đỡ của Bính Mậu tại trụ giờ, Đông mộc mất lệnh, không có Bính Mậu rút cuộc không phải là thượng cách. Tóm lại Ất mộc tháng 10, thủy vượng dụng Mậu, Mậu nhiều dụng Giáp, Giáp nhiều dụng Canh, tùy bệnh dùng dược, tùy nghi phối hợp, nhưng hàn mộc hướng dương nhất định kiêm cả Bính hỏa làm dụng.

    Kỷ Hợi/ Ất Hợi/ Ất Tị/ Đinh Hợi.

    Trong ba chi Hợi có ba Nhâm sinh mộc, cùng Xuân mộc giống nhau, Mậu Bính làm dụng, Bính Mậu lộc ở Tị, tuy không thấu can, nhưng nhất bảng ngũ phẩm, chỉ bởi Tị Hợi gặp xung, tính tình kiêu ngạo chuốc thù oán, làm việc nhanh nhẹn.

    Bình chú: Cung Tị dụng thần đều tụ họp nơi đây, mà Dịch Mã gặp xung, trong thành có bại, quý hiển cũng kém sắc.

    Mậu Tý/ Quý Hợi/ Ất Mùi/ Bính Tý.

    Mậu Bính thấu, quan Ngự Sử.

    Bình chú: Tứ trụ này bản phường (bản in của các phường khắc) có điểm sai sót, nay đính chính lại, Hợi Mùi hội cục, vừa là Kỷ thổ hỗn Nhâm, Quý thấu Mậu chế, lại thêm Bính thấu, như vậy hiển quý là đương nhiên.

    Ất Sửu/ Đinh Hợi/ Ất Dậu/ Mậu Dần.

    Nữ mệnh, chồng là tú tài, đại phú, dụng Mậu bởi lẽ đó.

    Bình chú: Phu tinh ở Dậu, cách Tài hóa Thực sinh Quan, năm tháng Sửu Hợi kẹp Tý, nhà mẹ cũng cao quý.

    Giáp Tuất/ Ất Hợi/ Ất Hợi/ Kỷ Mão.

    Tú tài, đại phú, dụng Mậu.

    Bình chú: Tạo này Thai nguyên là Bính Dần, Kỷ thổ xuất can, Bính hỏa hóa Kiếp sinh Tài, cho nên phú mà không mất vẻ nho sinh.

    Giáp Tuất/ Ất Hợi/ Ất Hợi/ Tân Tị.

    Có năng lực Cống sinh, mệnh Tam đa Ngũ phúc. (1)

    Bình chú: Bính Mậu lộc ở Tị, dụng quy về trụ giờ, phúc khí tuy muộn nhưng vô tận, con cháu nhất định quý hiển.

    Giáp Thân/ Ất Hợi/ Ất Hợi/ Mậu Dần.

    Lưỡng bảng.

    Bình chú: Bính Mậu Trường sinh tại Dần, Thân cung có Canh chế Giáp, chuyên dụng hai Mậu, bên trên liệt kê ba mệnh tạo đều cùng Thai nguyên Bính Dần, có thể so sánh lẫn nhau, tốt xấu tự phân biệt.

    Giáp Tuất/ Ất Hợi/ Ất Hợi/ Canh Thìn.

    Cách giả hóa hợp, có tài năng tú tài, mệnh Tam đa.

    Bình chú: Tạo này hợp mà không hóa, bởi vậy mới nói cách giả hóa hợp, nên lấy Canh làm dụng, không lấy Thai nguyên Bính Dần, được Thái dương trợ giúp, mộc có sức sống, Bính hỏa là con, con có thể trợ giúp cha, phúc về sau đương nhiên tốt đẹp, vì vậy là mệnh Tam đa.

    Canh Thân/ Đinh Hợi/ Ất Hợi/ Đinh Hợi.
    Bần tiện.

    Bình chú: Nhâm thủy cung Hợi đắc lộc, trùng điệp gặp Trường sinh, thủy vượng mộc phù, không có Mậu chế thủy, là mệnh trôi nổi.

    Kỷ Dậu/ Ất Hợi/ Ất Hợi/ Đinh Hợi.

    Thủa nhỏ mồ côi, trước bần sau phú, có 5 con.

    Bình chú: Tạo này chuyên được Thai nguyên Bính Dần, can năm Kỷ thổ là Tài, bị chỗ Tỉ cướp đoạt, cho nên thơ ấu mồ côi, nghịch hành Nam phương vận Tài vượng đắc địa, thảo nào về sau giàu có.

    Giáp Tuất/ Ất Hợi/ Ất Hợi/ Bính Tý.
    Các lão.
    Bình chú: Bính hỏa xuất can, hàn mộc hướng dương, đại quý, Thai nguyên lại đắc Bính Dần.

    Canh Dần/ Đinh Hợi/ Ất Tị/ Kỷ Mão. Giờ Mão, ngày 21 tháng 10 năm Đạo Quang thứ 10.

    Mệnh Vương Văn Thiều: Bính Mậu lộc ở Tị, nguyên cơ ám tàng, vận hành Đông Nam là nơi sinh vượng, tuần tự lên chức, làm quan tới Đại học sĩ.

    Ất Mùi/ Đinh Hợi/ Ất Sửu/ Bính Tý. Giờ Tý, ngày 10 tháng 10 năm Đạo Quang thứ 15.

    Mệnh Từ Hi Thái hậu nhà Thanh: Hàn mộc hướng dương, chuyên dụng Bính hỏa, lấy Tân kim trong Sửu làm phu tinh, tiếc rằng không thấu, thuở nhỏ Tài vận sinh Quan, mũ rồng chốn Lục cung, Dần vận kim Tuyệt khắc phu, đến hậu vận chuyển về Đông Nam, làm bản thân vượng vận, buông rèm chấp chính 45 năm, mất tại Ất vận năm Mậu Thân, thọ 74 tuổi.

    Ất Sửu/Đinh Hợi/ Ất Mùi/ Kỷ Mão. Giờ Mão, ngày 4 tháng 10 năm Đồng Trị thứ 4.

    Hợi Mão Mùi đầy đủ, Khúc Trực Nhân Thọ cách, tiếc rằng Khúc Trực thất thời, lại không có Bính hỏa, tuy có Đinh hỏa xuất can, chỉ là mệnh một hương nông, Thực thần sinh Tài, nê gọi "bạch thủ thành gia" (tay trắng lập nghiệp), Ngũ phúc Tam đa, danh xưng Trưởng giả đệ nhất chốn hương quê.

    Mậu Dần/Quý Hợi/ Ất Mão/ Nhâm Ngọ. Giờ Ngọ, ngày 10 tháng 11 năm Quang Tự thứ 4.

    Mệnh Dương Tiểu Lâu: Nhâm Quý cùng thấu, chuyên dụng Mậu thổ, là diễn viên nhà nước nổi tiếng.
    Phản bổn quy chân

  11. Cảm ơn bởi:


  12. #67
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,429
    Ất mộc trong tháng 11

    Tháng 11, cành rễ cây bị hàn lạnh đóng băng, hỷ Bính khôi phục một điểm dương khí, dụng Bính hỏa làm tan băng, ngụ ý rằng "hoa mộc hữu hướng dương" không nên có Quý thủy xuất can làm đóng băng hoa mộc, cho nên chuyên dụng Bính hỏa.

    Ất mộc trong tháng 11 cùng tháng 10 đại khái giống nhau, không có khả năng xuất ra Bính Mậu, Bính để giải băng hàn, Mậu để khứ Quý thủy thì đều là bệnh cả. Nếu Nhâm Quý thấu can, không thể không có Mậu để chế, không thấy Nhâm Quý thì Mậu thổ cũng không cần sử dụng. Hàn mộc hướng dương, Bính hỏa là thứ không thể thiếu khuyết, nhằm điều hòa khí hậu, bởi vậy Ất mộc mới có sức sống. Đặc biệt trước và sau Đông Chí đơn giản có chút khác biệt nhỏ, trước Đông Chí, dương khí chưa động, tuy dụng Bính hỏa, bất quá chỉ yên ổn mà hưởng giàu có tôn vinh. Sau Đông Chí, nhất dương trở lại, Bính hỏa đắc dụng, quý hiển thỏa lòng như mong đợi, điểm này do mối quan hệ giữa mùa và thời tiết vậy.

    Được một hoặc hai điểm Bính hỏa xuất ra can, không gặp Quý phá, nhất định được phép khoa giáp. Nếu có hai Bính tàng dưới chi, có lẽ được tuyển chọn đề bạt, được vậy nhưng chẳng quý, nhất định là do Phong Thủy lạnh nhạt. Hoặc Nhâm xuất can, thấy Mậu chế, có thể thành người tài giỏi, Bính tàng làm Tú tài, Nhâm không có Mậu là hạng bần tiện.

    Làm rõ ý nghĩa đoạn văn ở trên, Bính hỏa xuất can, không có Nhâm Quý khắc chế, có thể định khoa giáp. Bính tàng ở Dần Tị, không có Thân Hợi hình xung, cũng quý. Nếu Nhâm Quý xuất can, cần có Mậu thổ để cứu giúp, vẫn dụng Bính hỏa, Bính xuất thì quý, Bính tàng Dần Tị, bất quá chỉ là tú sĩ. Nhâm nhiều không có Mậu, Bính hỏa ở đó bị Nhâm thủy phá hại, chắc chắn là kẻ bần tiện.

    Hoặc chi hội thủy cục, Tý xuất ra Nhâm Quý, hoàn toàn không có Bính hỏa, tuy thấy Mậu chế, nhưng không thể tránh khỏi phải bần hàn đến già, đi đến Nam phương vận, thì hưởng chút y lộc (quần áo và bổng lộc). Đinh hỏa có cũng như không, hoặc ngay như dụng Đinh, chỉ như ánh sáng ngọn đèn, sao có thể làm tan chảy đống băng cực lạnh, là người vô dụng mà thôi. Giả sử Bính Đinh Mậu hoàn toàn không có, thấy nhiều kim thủy, là người bôn ba, hạ tiện, hoặc hoàn toàn không có Mậu Kỷ, có hỏa cũng thuộc thường nhân, bần hàn nhưng không đến nỗi hạ tiện. Hoặc một bè Đinh hỏa, là kẻ đại gian đại trá, không có Giáp dẫn Đinh, cô độc đến già, nằm dài ngắm mây trắng chốn thâm sơn, Đinh hỏa thấy Giáp thì vợ hiền con được giống cha, vừa tựa chân Kỳ Lân chấn động, vừa như cỏ chi lan quấn quanh đầu gối.

    Bính hỏa là vật chủ yếu, Mậu thổ là thần cứu ứng, có Mậu chế Nhâm mà không có Bính hỏa, Ất mộc tuy không đến nỗi bị trôi nổi, nhưng cũng không đủ sinh cơ, chỉ là người bình thường thôi. Căn có trước mầm, Thìn cục không phải căn gốc của Bính hỏa, dù vận tới Nam phương, cũng không đủ phát phúc, y lộc chưa thể dự đoán, khó hi vọng hiển đạt. Bính là hỏa Thái dương, Đinh là ánh sáng đèn cầy, điều hòa khí hậu phải dụng Bính, Đinh hỏa dù có cũng như không, nguyên cục không có Bính, không đắc Tị dụng Đinh, Đinh hỏa thông căn ở Ngọ Mùi, bổ xung chiếu sáng cho Giáp mộc, thì cũng có thể hữu dụng, chỉ là lực lượng quá mỏng mà thôi. Nếu một bè Đinh hỏa, lực lượng sung túc, gặp lấy Đinh làm dụng, nhưng mà âm mộc âm hỏa, tính tình bản thân nhất định âm trầm, đồng thời mộc hỏa thành người thông minh, do vậy mới nói kẻ đại gian, đại trá là thế. Đinh hỏa lấy Giáp làm mẹ, Ất mộc vì thế sinh sôi như cây đậu tía, cùng Giáp mộc không mấy khác biệt, vì vậy Đinh hỏa thấy Giáp, chủ chân Lân chấn động, không Giáp dẫn Đinh, chủ cô độc góa bụa (dụng Đinh thì mộc là vợ, hỏa là con, cho nên không có Giáp chủ góa bụa, Giáp mộc dẫn Đinh, chủ vợ hiền con giống cha), có Bính Đinh không đến nỗi thấp hèn, không có Mậu Kỷ khó tránh khỏi bần hàn, khí hậu phối hợp, không thể miễn cưỡng vậy.

    Hoặc chi thành thủy cục, Nhâm Quý cùng thấu, thì mộc trôi nổi vậy, không chỉ bần tiện mà còn chết yểu, được một Mậu cứu giúp mới thuyên giảm.

    Được Mậu cứu ứng có thể thoát khỏi chết yểu, không gặp Bính hỏa thì bần hàn tới già, ý nghĩa giống như đoạn văn ở trên.

    Tóm lại, Ất mộc tháng mùa Đông, lấy Mậu ngăn thủy có thể bổ cứu, không thể dụng bổ trợ, nhất định phải dụng Bính, song trong cục đầy Nhâm Quý, được một Mậu cũng có thể tránh cô yểu. Dụng hỏa thì mộc là vợ hỏa là con; dụng thổ thì hỏa là vợ, thổ là con.

    Tháng mùa Đông kiêm lấy Mậu thổ, có điều chỉ là dược khử bệnh, là thần cứu ứng, không được ỷ lại tưởng rằng đó là dụng thần. Điều hậu là cấp thiết, không thể dụng Đinh, hàn mộc hướng dương, chuyên lấy Bính hỏa. Dụng thổ khi trong cục đầy Nhâm Quý, bất đắc dĩ lấy Mậu thổ để bổ cứu vậy.

    Ất mộc sinh ở sau tiết Đông Chí, tọa dưới mộc cục, được Bính thấu can là mệnh phú quý, cho dù Đinh xuất can, cũng có y lộc, cần kỵ Quý chế Đinh. Ất mộc sinh ở tháng mùa Đông, Kỷ thổ thấu can, lại có Bính thấu, là mệnh đại phú quý.

    Sinh ở sau Đông Chí, nhất dương trở lại, (trước Đại Hàn, cách xem tương tự) tọa dưới mộc cục, Đông mộc thành rừng, không chỉ có thể dụng Bính hỏa, mà còn có thể dụng Đinh hỏa, hàn mộc hướng dương, là mệnh phú quý, thấy Đinh lực lượng tuy mỏng nhưng cũng có y lộc, duy không thể gặp Quý thủy. Dụng Đinh mà có Dần Tị Ngọ làm gốc, thì cũng giống như Bính hỏa, Kỷ thổ thấu can, lại có Bính thấu, vậy lấy Kỷ thổ chế Quý, vẫn dụng Bính, địa chi có Sửu hợp Tý càng tốt, nếu thấy Nhâm thủy xuất can, Kỷ thổ vô ích, nhất định phải Mậu làm dụng, ý nghĩa đoạn văn này so với đoạn văn trên dường như mâu thuẫn, nhưng do sau Đông Chí chi thành mộc cục là điều kiện, nên chẳng hề mâu thuẫn, bản sao Tạo Hóa Nguyên Thược đã lược bỏ, từ phụ lục lấy ra cung cấp nhằm tham khảo thêm.

    Canh Thân/ Mậu Tý/ Ất Tị/ Bính Tý.
    Bính Mậu lưỡng thấu, Từ lâm.

    Canh Thân/ Mậu Tý/ Ất Tị/ Ất Dậu.
    Mậu thấu Bính tàng, Tri châu.

    Bình chú: Cả hai tạo ở trên, Bính Mậu đắc lộc ở Tị, tiếc là mộc vô căn, bằng không phú quý không dừng ở đó, may mắn là Ất mộc tuy nhược nhưng không đáng ngại.

    Tân Hợi/ Canh Tý/ Ất Mão/ Bính Tuất.
    Hóa chẳng gặp thời, là cô nhi mang họ khác, may mắn có Bính hỏa làm tan băng, bởi vũ dũng mà phòng bị được.

    Đinh Mùi/ Nhâm Tý/ Ất Mùi/ Bính Tý.
    Mệnh Thuận đế triều Nguyên: Hàn mộc hướng dương, chuyên thủ Bính hỏa làm dụng, Đinh Nhâm hợp nhất, khứ bệnh thành quý, vận Thân thì mất nước.

    Tân Tị/ Canh Tý/ Ất Dậu/ Đinh Hợi. Quang Tự năm thứ 7, tháng 10, ngày 26, giờ Hợi.
    Mệnh Trần Quang Phủ: Chi năm cung Tị tàng Bính, can thấu Đinh hỏa chế Canh, chức vị tới Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương nghiệp Thượng Hải.
    Phản bổn quy chân

  13. Cảm ơn bởi:


  14. #68
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Hà Nam
    Bài viết
    1,429
    Ất mộc trong tháng 12

    Tháng 12, hàn mộc thấy Bính, mang ý mùa Xuân trở lại.

    Tháng 12, mộc đóng băng cành là khô héo, gặp Bính hỏa chiếu sáng sưởi ấm, ngụ ý mùa Xuân trở lại, trừ Bính hỏa ra không dụng thần thích hợp cả, cùng tháng 11 tương đồng.

    Được một Bính thấu, không có Quý xuất ra phá cách, khoa bảng hiển lộ làm quan; hoặc chi tàng Bính hỏa thì bất quá chỉ là một lẫm cống sinh đồ (2), chung quy thuộc kẻ sĩ bần hàn

    Hàn mộc hướng dương, được một Bính trên cao chiếu rọi, sức mạnh hiển lộ gấp bội, thấy Quý là phá cách, cùng với Ất mộc sau Đông Chí cách xem giống nhau. Bính hỏa tàng trong Dần Tị, vận hành Đông Nam, cũng chắc chắn quý hiển, nếu không có vận trợ giúp, cuối cùng chỉ là kẻ sĩ bần hàn mà thôi.

    Hoặc một bè Mậu thổ, thấy Giáp, chuyên dụng Bính hỏa, nhưng không thể đại phú, chỉ có chút y lộc.

    Tháng 12, khí thủy đã suy, trụ không có Nhâm Quý, tất nhiên không cần dụng Mậu thổ vậy, có một bè Mậu thổ trở thành Tài đa thân nhược, phải thấy Giáp phá Mậu, Giáp làm thần cứu ứng, vẫn lấy Bính hỏa làm dụng, Tài nhiều có Kiếp trợ, bởi vậy được chút y lộc.

    Hoặc tứ trụ toàn là Mậu Kỷ, không thấy Tỉ Kiếp, lấy Tòng Tài luận, thành đại phú. Tỉ Kiếp phá Tài thì nghèo không tấc đất.

    Tứ trụ đều là Kỷ, thành cách Tòng Tài, đại phú, cũng cần Bính hỏa sưởi ấm thổ, thành tượng "hàn cốc hồi xuân". Ất không thể phá Kỷ, Giáp hợp nơi Kỷ, tòng cách bất thành, Tài đa thân nhược, là mệnh bần hàn. Đông mộc lấy tiết để sống, thấy Bính hỏa thì không sợ nhược, hóa Tỉ Kiếp để sinh Tài, tuy không phú những cũng chẳng đến nỗi bần hàn.

    Nhâm Ngọ/ Quý Sửu/ Ất Mão/ Tân Tị. Bính Mậu được chỗ tốt, nhất bảng, làm quan Phủ Doãn.

    Nhâm Ngọ/ Quý Sửu/ Ất Dậu/ Tân Tị. Tị Dậu Sửu hội kim, Bính hỏa bị đình chỉ, chỉ có y lộc, giàu có một chút mà thôi.

    Bình chú: Cả hai tạo chỉ khác nhau một chữ, Ất Mão là hoạt mộc, hoạt mộc được hỏa mà thanh tú, tự có quý khí; Ất Dậu là tử mộc, tuy Bính hỏa được chỗ tốt, nhưng chỉ giàu có đôi chút mà thôi. Tị Dậu Sửu hội cục, khí kim chuyên nhất, Bính hỏa chưa mất hết tác dụng, ví như không phải giờ Tị, thiên can có Nhâm Quý đóng băng mộc, địa chi có Dậu Sửu tổn thương mộc, có thể không có sợ bần, yểu, tàn tật nhưng muốn cầu y lộc giàu có, há có thể được ư.

    Đinh Dậu/ Quý Sửu/ Ất Mão/ Bính Tý. Đô Hiến (chức quan).

    Canh Tý/ Kỷ Sửu/ Ất Sửu/ Bính Tý.
    Bình Chương (chức quan).

    Canh Tý/ Kỷ Sửu/ Ất Tị/ Canh Thìn.
    Sát trọng Thân khinh, bần mà còn yểu.

    Bình chú: Ba tháng mùa Đông, khí Canh Tân tiết nơi thủy, vốn không thể tổn thương mộc, thấy Kỷ thổ chế Quý thủy, thì Canh kim có lực, Ất mộc thấy Canh, không hóa tất bị cản trở. Mệnh bên trên có Bính hỏa xuất ra, phá Canh, Ất mộc được tác dụng hướng dương, mệnh dưới Bính hỏa tàng Tị, không thể chế Canh, lại không thể dụng Canh, mộc bị kim thương, vì vậy thành Sát trọng Thân khinh.

    Tân Mão/ Tân Sửu/ Ất Hợi/ Tân Tị. Thượng thư Hà Khởi Phượng.

    Giáp Dần/ Đinh Sửu/ Ất Dậu/ Tân Tị.
    Cử nhân.

    Đinh Tị/ Quý Sửu/ Ất Sửu/ Tân Tị.
    Đô Hiến, 10 con.

    Mậu Ngọ/ Ất Sửu/ Ất Tị/ Canh Thìn. Hàm Phong (niên hiệu của vua Văn Tông thời Thanh ở Trung Quốc, 1851-1861) năm thứ 8, tháng12, ngày mùng 4, giờ Thìn. Mệnh Phó Tổng thống Phùng Quốc Chương: Lấy Tài sinh Quan vượng, địa chi Sửu Thìn Tị Ngọ, kẹp Dần Mão, Ất mộc ám cường, vận hành Tị Canh, khai phủ Giang Nam, chức vị tới Tổng Thống, chết ở Ngọ vận, cuối năm Kỷ Mùi.

    Nhâm Thân/ Quý Sửu/ Ất Hợi/ Canh Thìn. Đồng Trị năm thứ 11, tháng 12, ngày 25, giờ Thìn. Mệnh Địch Tiến Hi: Nhâm Quý cùng thấu, tiết kim sinh mộc, không lấy hóa luận, lại thêm Ất mộc đến Hợi, đắc khí trường sinh, càng không thể hóa. Tứ trụ không có hỏa, vận hành Nam phương, danh lợi kiêm toàn, tiếc rằng can chi không có Bính, qua vận sau, cuối cùng thành hàn nho.

    Nhâm Thân, Quý Sửu, Ất Sửu, Tân Tị. Đồng Trị năm thứ 11, tháng 12, ngày 15, giờ Tị. Mệnh Lưu Hương Tôn: Bính hỏa được chỗ tốt, chức vị tới Thượng Hải đạo (3).

    Giáp Tuất/ Đinh Sửu/ Ất Dậu/ Bính Tuất. Đồng Trị năm thứ 13, tháng 12, ngày 16, giờ Tuất. Mệnh Đinh Siêu: Giáp Bính Đinh cùng thấu, chuyên dụng Bính hỏa, chức vị tới Trấn thủ sứ.

    Giáp Tuất/ Đinh Sửu/ Ất Dậu/ Canh Thìn.
    Đồng Trị năm thứ 13, tháng 12, ngày 16, giờ Thìn.
    Mệnh Úc Ba Sinh: Hóa hợp lỡ thời, nguyên mệnh có Đinh chế Canh, Giáp mộc trợ Ất, chi thấy Tài đa, vận hành Thìn Nhâm, Ấn hóa Sát sinh thân, giàu nhất một phương, tới Ngọ vận thì mất.

    Ất Hợi/ Kỷ Sửu/ Ất Dậu/ Đinh Sửu.
    Quang Tự năm thứ nhất, tháng 12, ngày 22, giờ Sửu.
    Mệnh Tạ Trì: chuyên dụng Đinh hỏa, khó giải băng hàn, sợ rằng có lúc gặp lầm lỡ.

    Bính Tý/ Tân Sửu/ Ất Tị/ Ất Dậu.
    Quang Tự năm thứ 2, tháng 12, ngày 19, giờ Dậu.
    Mệnh Cố Phùng Bá: Tị Dậu Sửu tam hợp thấu Tân, Bính cùng Tân hợp, trói buộc dụng thần, Sát trọng thân khinh, hành vận giúp bản thân (Đông phương ) thì tốt nhất, vận chế Sát tuy đẹp nhưng bản thân gặp khắc tiết cùng lúc, ở trong vận tốt mà qua đời, mệnh này chết ở Bính vận cuối năm Canh Thân.

    Đinh Sửu/ Quý Sửu/ Ất Dậu/ Kỷ Mão.
    Quang Tự năm thứ 3, tháng 12, ngày 5, giờ Mão.
    Mệnh Trần Kỳ Mỹ: Mão Dậu tương xung, nhật lộc bị hao tổn, Dậu Sửu hội cục, Sát vượng thân suy, Đinh hỏa Thực thần bị khắc nơi Quý thủy, hành Dậu vận, gặp ám sát bị cướp đi sinh mệnh.

    Chú thích:

    (1) Tam đa Ngũ phúc: Tam đa (ba cái nhiều) là: Tài (tiền), Lộc (ơn vua), Tử tôn (con cái). Kinh thi chia Ngũ phúc (năm điều phước) là: Giàu, Yên lành, Thọ, Có đức tốt, Vui hết tuổi trời.
    (2) Lẫm cống sinh đồ: học trò được vua cấp lương ăn học.
    (3) Đạo: thời Thanh, đạo là đơn vị hành chính dưới tỉnh
    Phản bổn quy chân

  15. Cảm ơn bởi:


  16. #69
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,013

    Bính Hỏa sinh ở 3 tháng mùa Xuan

    Tổng luân Bính hỏa sinh ở 3 tháng mùa Xuân.
    Bính hỏa sinh ở 3 tháng mùa Xuân, tượng là chủ trì đến mức uy nghiêm, dương về mặt đất, coi thường tuyết ức hiếp sương, chuyên dụng Nhâm thủy, là Thủy trợ giúp dương sáng, chứ không phải khắc Bính vậy. Danh viết thiên hòa địa nhuận, đã cứu giúp mà công thành vậy, hoặc Thổ nhiều là quần Thổ trở thành hiền từ, không tiết Bính hỏa chính là giả Bính vậy. Tháng giêng chuyên dụng Nhâm thủy, lấy Canh kim làm phò tá, tháng 2 chuyên dụng Nhâm thủy, tháng 3 thổ trọng hối Hỏa ( làm mờ Hỏa), dụng Nhâm thủy lấy Giáp làm phò tá mới là kì diệu.


    Bính hỏa tháng 3, dương về mặt đất, đồng thời cùng đến với Mộc khí, Mộc vượng hỏa tướng, thế lực song hành. Bính làm khí thuần dương, tương ngộ một cách rất đặc biệt, tốt tươi phồn thịnh, coi thường và ức hiếp tuyết sương, tầng tầng băng đá được giải trừ. Chính vì lẽ đó mà hiển lên được cái dương oai vậy. Bính hỏa không có Nhâm thủy, cô dương mà mất hỗ trợ, khí thế không trong sạch, cho nên lấy gặp Nhâm làm quý. Danh viết: Thủy trợ giúp dương quang, tức không phải là khắc Bính vậy. Giáp mộc tháng giêng đắc lộc, nguyệt lệnh tự có Mộc khí, có thể thông hiểu được cái tình của Thủy Hỏa. Cho nên mới nói địa nhuận thiên hòa, vừa có thành công cứu giúp vậy, thế của Bính hỏa là viêm nóng, gặp Thổ nhiều thì cứu giúp được cái uy của nó, Hỏa vượng vô Thủy, thì dụng Thổ để tiết bớt khí Hỏa vượng, cách cục nhiều phú mà thiếu quý vậy, giả như lấy làm dụng, bắt buộc phải nhớ thứ tự của nó vậy. Bính hỏa sinh vào 3 tháng mùa Xuân đều lấy Nhâm thủy làm tôn quý. Đặc biệt tháng giêng Nhâm thủy ở vào Tuyệt Địa, Giáp mộc sinh vượng, cho nên dụng Nhâm lấy Canh kim làm phụ tá, tháng 3 Thổ trọng, lấy Giáp mộc làm phò tá, Thổ trọng làm mờ ánh sáng của Bính và ngăn chặn sự lưu chảy của Nhâm, có Giáp mộc giải cứu, thì Thủy trợ Dương quang, như vậy vẫn thanh trong để dành được sự quý.


    Bính hỏa sinh vào mùa Xuân, tiết trời âm u, ngày Bính sinh vào mùa Xuân, Giờ Tháng xuất Quý, mây mù không phân biệt được với mưa sương, không hiển đạt vậy, không như Nhâm thủy trợ giúp Bính vậy.


    Trình bầy chi tiết ý nghĩa đoạn văn trên, Bính hỏa sinh vào ba tháng mùa Xuân, dụng Nhâm không dụng Quý, Bính hỏa gặp Nhâm, óng ánh trong veo, hợp nhau lại càng tăng thêm sức mạnh, Quý Bính cùng gặp, tiết trời âm u, mây mù không phân biệt được với mưa sương, làm mất đi tác dụng của Bính hỏa, cho nên gặp Nhâm là quý, gặp Quý thì không phải là quý, không chỉ có ba tháng mùa Xuân là như vậy.

    Dương can là khí sinh vượng, khí thế của nó mới khuếch trương, âm can là khí suy kiệt, công thành thân giảm sút, cho nên dương can nhất định phải dương can tương khắc, thì cùng bổ sung cho nhau thì càng tốt, như Giáp mộc hỷ Canh kim chẻ Giáp, Bính hỏa hỷ Nhâm thủy trợ giúp ánh sáng để chiếu rọi, Mậu thổ hỉ Mộc khai thông, Nhâm thủy hỉ Mậu thổ đê phòng, đều không phải tương khắc, chỉ có Canh kim hỉ Đinh hỏa, lợi dụng tính vượng của nó mà không phải viêm nóng, để trở thành công lao rèn đúc, đây là sự khác biệt của tính chất 5 can dương vậy, dương gặp dương để sinh vượng làm quý. Nếu như gặp can âm, có tình ý muốn khắc, thì không đủ lực để khắc, cách cục là thứ thôi, không chỉ có Bính hỏa gặp quý thủy là như vậy, mà lý của ngũ hành có thể tương thông.

    Bính hỏa sinh vào tháng giêng.


    Tháng giêng tam dương khai thái, Hỏa khí dần nóng, lấy Nhâm làm tôn quý, Canh kim làm phò tá.


    Tháng giêng Giáp mộc đắc lộc, nguyệt lệnh tự có Mộc khí, Mộc vượng hỏa tướng, tất lấy Nhâm thủy làm đối tượng (người yêu), mới hiển lên được cái tượng trong sáng, Tuyệt địa của Thủy ở cung Dần, cho nên lấy Canh kim làm phò tá.


    Nhâm Canh cùng thấu, nhất định có khoa bảng. Cho dù Nhâm thấu Canh tàng, tuy không phải do khoa giáp, thì cũng phù hợp với đươc ân phong bằng con được khác biệt nào đó.


    Nhâm Canh cùng thấu, Tài lộ Ấn tàng, cả hai không ngăn cản nhau, lấy Tài sinh Sát, lấy Ấn hóa Sát, đương nhiên hiển đạt. Nếu Nhâm thấu Canh kim tàng ở Thân và với Dần tương xung ,
    Dần Thân là sinh địa của Bính Nhâm, mà còn làm dụng thần sở tại vậy, xung lẫn nhau không phải là cát, nhưng cách xa nhau thì không ngại. Thủy giúp Dương quang, vẫn có thể dành được quý vậy, duy không phải chỉ bằng con đường khoa giáp mà có thể bằng con đường khác biệt nào đó.

    Nếu như một Nhâm cao thấu, có một hai Bính tàng ở Dần Tỵ. Cho dù nạp túc Tần danh*, cũng có thể có thời kì hiển chức, là người có phong cách khẳng khái tài hoa, quang minh lỗi lạc, có tài bước trên nhiều người.


    Người Bính dụng Nhâm, lấy thân vượng là ý nghĩa trọng yếu đầu tiên, căn gốc lấy chi làm trọng, Bính hỏa thông căn Dần Tị, nhật nguyên đương nhiên vượng. Đoạn văn trên nói Nhâm Canh lưỡng thấu dụng Tài sinh Sát vậy. Nói như vậy chỉ một Nhâm thấu mà không có Canh, Bính hỏa thông căn ở Dần Tỵ, giả như Sát làm quyền, tính Bính hỏa dương cương, được Nhâm thủy phù trợ ánh lửa sẽ sáng chói, cho nên chủ khẳng khái anh hào, lỗi lạc
    , quang minh.

    Hoặc Bính ít Nhâm nhiều mà không có Mậu chế, Sát trọng Thân khinh, người này ngoài thì tươi cười trong thì nham hiểm ( miệng nam mô, bụng bồ dao găm), lớn gan lưu manh côn đồ, gặp được một Mậu chế Nhâm, đó là đại phú đại quý. Nhưng thích hợp gặp một hai Tỉ Kiên mới tuyệt diệu.


    Bính ít Nhâm nhiều, Sát trọng Thân khinh, tháng giêng Mộc khí đương vượng, có Ấn hóa Sát, không đến nỗi thương hại thân, nhưng Sát nhiều không cát, có Mậu chế Nhâm, liền thành phú quý. Nhưng dụng Thực chế Sát, cũng cần thân vượng, bằng không, khắc tiết đan xen ( lẫn lộn), cho nên rất cần một hai Tỉ Kiên giúp thân mới là tuyệt diệu, bên trên nói về dụng Nhâm thủy, là con đường phát triển đúng đắn của Bính hỏa trong tháng giêng.


    Hoặc một bè Canh Tân hỗn tạp, người bình thường, hoặc trên trụ giờ và trên trụ tháng cùng thấu Canh Tân, tú tài. Hoặc trụ năm có Tân trụ giờ có Tân, gọi là tham hợp, chắc chắn là người ham mê tửu sắc, nữ mệnh cũng cùng một lý đó thôi, khó lập được nghiệp cho bản thân, khó được thừa hưởng gia sản của tổ tiên.


    Nói như vậy thì lấy Tài làm dụng, Bính hỏa gặp Tân thì hợp, vậy Bính hỏa mất đi tính dương cương của nó. Do đó khi dụng thì chỉ thích hợp với Canh mà không thích với Tân, trụ giờ trụ tháng cùng thấu Canh kim, như tháng Canh Dần giờ Canh Dần vậy, Thân vượng đảm nhiệm Tài mà Tài lâm Tuyệt địa, chủ thanh quý mà thôi. Nếu lưỡng thấu Tân kim, Bính Hỏa Tham hợp, thì Bính hỏa mất đi bản tính của nó, lạc vào mê lộ mà không biết quay trở lại, tình thế là như vậy đấy.

    Hoặc một khối Mậu thổ tiết, Giáp không xuất can, khó thành nhân tài, mà e rằng bần tiện chết ở bên ngoài. Cho nên Bính hỏa sinh vào tháng giêng, tối kị Mậu thổ làm mờ ánh sáng (của Bính hỏa). Hoặc chi thành Hỏa cục, chuyên lấy Nhâm thủy làm thanh quý, không có Nhâm, Quý cũng có thể dùng tạm. Nếu Nhâm Quý đều không, thì lấy Mậu để tiết Hỏa khí, nhưng thuộc loại bình dân thôi.


    Nói như vậy là Thực thần làm dụng vậy.
    Bính hỏa sinh vào tháng giêng, cung Dần tự có Mộc khí sinh, vốn không cần Giáp mộc xuất can. Nếu một khối Mậu thổ che mờ ánh sáng, thì không thể không mượn Giáp mộc xuất can để cứu, thành Thực thần bội Ấn vậy. Bởi thế Bính hỏa sinh vào tháng giêng là khí của phương sinh, gặp Mậu thổ thì ánh sáng bị che mờ, cho nên là tối kị. Cho dù chi thành hỏa cục, không có Nhâm, Quý có thể dụng, bất đắc dĩ mới dụng Mậu thổ tiết hỏa khí, vậy cũng không phải là thượng cách. Cho nên dụng Tài dụng Thực thương, đều là thuận theo cục mà phối hợp, đó chính là giả thần chứ không phải chân thần, dụng Quý thì trời âm u do sương mù bao phủ ( xem tổng luận), thì cũng là giả thần, đều là những mệnh tạo tầm thường vậy.

  17. Cảm ơn bởi:


  18. #70
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,013
    Hoặc chi thành hỏa cục, lại lấy Viêm thượng cách luận, nhưng chi thành mà không được lệnh, vận không gặp Đông nam, thì trở thành cô bần.
    Tháng giêng gặp Dần, gặp thêm Ngọ Tuất, hội thành hỏa cục, Tứ trụ không có Nhâm Quý, là thành Viêm thượng cách, cần phải được sinh ở tháng Tỵ Ngọ mới là đắc thời đắc lệnh, sinh vào 3 tháng mùa Xuân, chuyên vượng thất thời, phải hành Đông nam vận trình trợ giúp, thì có thể phú quý, bằng không, chỉ là mệnh cô bần, ( Đông Nam mới chuẩn, trong bản in của các phường khắc in là Đông Tây điều này rất sai lầm). Thông thường thành cách không nhất định là quý, nói chung cần phải phối hợp được thích hợp,
    mà cách cục chuyên vượng, đặc biệt cần đắc thời đắc địa làm yêu cầu. Phàm viêm thượng cách nhất định cần phải hành vận Đông Nam. Cho dù gặp thời đắc lệnh, thì cũng không được rời ý này. Từng găp một tạo: Giáp Ngọ, Canh Ngọ, Bính Ngọ, Giáp Ngọ. Đẹp ở đắc thời, tuy nhiên cẩn trọng nhu nhược, sinh ra chỉ là người như bình thường vậy.

    Hoặc Tứ trụ có Giáp mộc, được Canh kim ám chế, có thể làm tú tài.


    Nói như vậy là dụng Tài tổn Ấn vậy. Giáp mộc sinh vào tháng giêng Lâm quan. Nếu như tứ trụ gặp nhiều Giáp mộc, thì Mộc thịnh Hỏa hàn, được Canh kim ám chế mới là kì diệu. Tiết này với phần trên đang bàn về trụ giờ và trụ tháng cùng thấu Canh kim với ý Canh kim trọng nặng, chỉ là nho lâm tú sĩ, không mất đi sự thanh quý là vậy.


    Không có Nhâm dụng Quý, phú quý sơ qua, mà còn Quan Sát cũng cần vượng tướng có căn, Bính hỏa vô Nhâm, phần nhiều chủ bần tiện. Càng nhiều dẫn chứng thì càng nhiều kinh nghiệm, hoặc Hỏa nhiều không có Mộc, vừa đến đất Thủy tất chết, nếu không thì nhất định chủ tai họa bất hạnh, Bính hỏa tháng 5 hợp với Viên thượng cách, cũng không thích Thủy phá cách, dụng Quý vô căn, ắt chủ mắt có tật.


    Hai tiết này ý nghĩa đều trùng lặp với đoạn trên, bản sao của sách Tạo hóa nguyên thược đã cắt bỏ, hiện nay chỉ là phần phụ lục. Bính Hỏa sinh vào tháng giêng, không có Nhâm dụng Quý, người dụng Nhâm được kế thừa quý hiển, người dụng Quý thì phú quý sơ qua, bất luận dụng Nhâm dụng Quý, ( Quan Sát) đều phải thông căn vượng tướng, Thủy tuyệt địa ở tháng Dần, vô căn dễ khô cạn, khó giành được phú quý, dụng Qúy vô căn, nhất định chủ mắt bị tật, nguyên nhân là Quý thủy bị sấy cạn vậy, Bính hỏa tất lấy Nhâm làm dụng, khí thế bắt đầu sáng tỏ, vô Nhâm nói chung là không đẹp, kinh nghiệm này là rất tâm đắc vậy. Hỏa nhiều vô Thủy, với Viêm thượng cách cách luận giống nhau, vận đến đất Thủy, vài giọt nước kích ngon lửa Hỏa, không chết thì cũng tai họa, Viêm thượng Cánh với tháng 5 kị thủy phá cách, cùng một lý mà suy ra thôi. ( Tham khảo tiết tháng 5).


    Dụng Nhâm thì Kim là thê Thủy làm tử, dụng Canh thì Thổ làm thê Kim làm tử, trước là Nhâm sau mới đến Canh, Nhâm kị gặp nhiều.


    Bính hỏa sinh vào tháng giêng, lấy dụng Canh Nhâm làm chính đạo, Tài sinh Sát nhược vậy. Dụng Canh, nếu như Mộc nhiều thì lấy Tài phá Ấn, Thổ nhiều là Thực thần tiết khí. chỉ là thứ cách, Nhâm nhiều dụng Mậu, Mậu nhiều dụng Giáp, lại chỉ là thứ yếu mà thôi.


    Bính Ngọ, Canh Dần, Bính Ngọ, Canh Dần.


    Hai can không tạp, là quan án sát.


    Theo trụ giờ, trụ tháng cùng thấu Canh kim, mà Canh kim vô căn, Dần Ngọ hội cục, Tỉ Kiên xuất can, không thể dùng Tài, chính là Viêm thượng thất thời, hỷ vận hành Đông nam, cho nên quý làm quan án sát.


    Canh Dần, Mậu Dần, Bính Dần, Nhâm Thìn.


    Canh Nhâm đều thấu, vị đến quan chủ khảo.


    Theo mệnh tạo này Thủy vượng xuất can, Mậu thổ là bệnh, hỉ được Canh hóa Thực sinh Sát, vị đến quan chủ khảo.


    Canh Dần, Mậu Dần, Bính Thìn, Mậu Tý.


    Canh thấu Quý tàng, cự phú, dụng Quý trong Tý. Trạng nguyên


    Theo tạo này chuyên dụng Quý thủy trong Tý, Canh thấu hóa Mậu thổ sinh Quý thủy. Không có Canh Quý bị Mậu chế, cho nên trọng yếu là ở Thiên tài. Do đó giàu có to lơn, Quý ở trong cung tử tức Tý chi giờ, cho nên con cũng quý.


    Đinh Dậu, Nhâm Dần, Bính Tý, Mậu Tý.


    Tú tài. Vận Ngọ chết, trước giầu, sau nghèo mà lại cô đơn.


    Theo mệnh tạo này, Đinh hỏa hợp khử Nhâm thủy, Mậu thổ hạn chế Quý thủy, trụ năm Dậu kim sinh Nhâm, cho nên làm Tú tài, tức trước giàu. Trụ giờ gặp Mậu Tý, sau cô độc mà bần hàn, đến vận Ngọ thì chế, thọ nguyên ( tuổi thọ) đến Ngọ, tức lấy Ngọ là tuyệt địa của Tý thủy, song cũng đã ngoài bát tuần rồi. ( hơn 80 tuổi).


    Đinh Dậu, Nhâm Dần, Bính Tý, Mậu Tuất.


    Là người theo con đường văn hóa, nhã nhặn lich sự, từ sớm đã gian nan về đường con cái, trước giàu sau nghèo thọ cao.


    Tạo này với Tạo trên giống nhau, trụ giờ Mậu Tuất lực chế Sát tương đối mạnh, cho nên tử tức gian nan, trước giàu sau nghèo thọ cao, đều giống mệnh tạo bên trên.


    Đinh Dậu, Nhâm Dần, Bính Tý, Kỷ Hợi.


    Quan Tri châu (1),
    5 con đều quý, vào vận Dậu thì chêt.

    Theo mệnh tạo này Nhâm thủy cung Hợi trường sinh, lâm Thiên Ất quý nhân, cho nên con nhiều mà quý, Kỷ thổ không đủ để chế Nhâm, lực hối hỏa cũng mỏng, cho nên làm đến Quan Tri châu.


    Ất Mùi, Mậu Dần, Bính Thân, Tân Mão


    Mộc thịnh dụng Canh, cô bần mà chết yểu.


    Theo mệnh tạo này dụng Canh tân kim tạp loạn, Bính hỏa thấu Tân mà sợ chết khiếp, Tân Sửu không thể trừ bỏ được Ất, uổng phí đ
    ã có tình rồi lại còn thương khắc. Mệnh tạo của một người bạn:. Ất Mùi, Mậu Dần, Bính Thân, Canh Dần, dụng Canh không có Tân, Tài Ấn giao sai, dụng Nhâm thủy cung Thân, xuất thân thế gia, phú quý bậc trung.

  19. Cảm ơn bởi:


 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •