Chào mừng đến với Tử Bình diệu dụng.
Trang 10 của 11 Đầu tiênĐầu tiên ... 891011 CuốiCuối
Kết quả 91 đến 100 của 104
  1. #91
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,079
    Bính Hỏa sinh vào tháng 11.
    Tháng 11 tiết Đông chí dương sinh, trong nhược sinh vượng, trước dụng Nhâm, Mậu làm phò tá.

    Bính hỏa ở tháng trọng Đông, trước Đông chí, xem giống với tháng 10, sau Đông chí, nhất dương hồi phục trở lại, trong nhược hồi phục lại cường. Khi Nhâm thủy ở tháng trọng Đông chuyên vượng, cho nên lấy Mậu thổ làm phụ tá, là lúc không phải nhật nguyên sinh vượng thì không thể được.

    Nhâm Mậu đều thấu, nhất định có khoa bảng, cho dù phong thổ bất cập, tất nhiên sẽ được tuyển chọn đề bạt, nhiều Mậu gặp Kỷ, không quá tú tài, hoặc hiển đạt bằng con đường khác biệt nào đó. Người dụng Mậu, không thể thiếu Giáp, Nhâm Mậu cần cân nhắc khi dụng. Dụng Mậu không thể thiếu Giáp, là điểm chính yếu nhất. Sau Đông chí, tuy nói rằng nhất dương hồi phục trở lại, nhưng cuối cùng vẫn thuộc khí thế rất suy nhược, Bính hỏa tuy mừng có Nhâm thủy phụ giúp thêm sức chiếu sáng, nhất định phải có Giáp mộc sinh trợ hỏa vượng, mới có thể cùng bổ sung cho nhau thì mới tốt, dụng Nhâm không thể thiểu Giáp, dụng Mậu càng không thể không có Giáp, nhật nguyên sinh vượng, mới khá dụng Thực Thần chế Sát vậy, đến mức Mậu nhiều gặp Kỷ, chế Sát thái quá, do Nhâm thủy thừa vượng, cho nên là sự thanh tú của Nho lâm. Trụ có Giáp Bính, phối hợp được thích hợp, sẽ hiển đạt bằng con đường kì lạ nào đó, nếu không thì, chế quá Thất sát , quá cẩn trọng mà cũng chỉ là bần nho mà thôi, công danh không thể đạt, thân vượng dụng Nhâm, Nhâm nhiều dụng Mậu, cần phải xem sự vượng nhược của nhật nguyên mà cân nhắc khi sử dụng vậy.


    Hoặc nhất phái Nhâm thủy, chuyên dụng Mậu thổ, người này tuy không thành danh, văn chương vượt xa nhiều người, nhưng cuộc đời danh lợi hư phù, vì sao vậy? Bời Mậu làm mờ ánh sáng của hỏa, cần phải có Giáp mộc làm thuốc vậy, hoặc thủy nhiều không có Mậu, hỏa nhiều không có Nhâm, phối hợp không được trung hòa, hạ cách
    .

    Hỏa ở tháng 11 thất lệnh, gặp một bầy Nhâm thủy, không thể không dụng Mậu thổ, nhưng Mậu thộ lại trợ giúp ánh sáng của Bính Nhâm, Bính hỏa lại yếu ớt vô khí, tuy tài năng xuất chúng, cũng chỉ là danh lợi hư phù (
    Sát vượng có chế, cho nên có tài năng) được Giáp mốc thì trở thành cứu trợ, chính là danh lợi lưỡng toàn.
    Tóm lại: Nhật nguyên suy nhược, dụng Tài Sát hoặc dụng Thực thần chế Sát, đều không phải thượng cách, không dụng Ấn thì không thể được. Nếu nguyên cục Ấn Kiếp quá nhiều, lại không dụng Sát thì không thể, không có Sát cũng không phải thượng cách.
    Hoặc không có Nhâm thủy, có Quý xuất can, được kim sinh mà không có thương hại, lại có Bính thấu để giải băng hàn, có thể bằng lòng với y khâm vậy.


    Nối tiếp đoạn văn trên. Như nguyên mệnh Ấn Kiếp quá nhiều, không có Nhâm Sát thì không quý, không có Nhâm dụng Quý. Nhưng Quý thủy ở tháng trọng Đông giống như sương tuyết, Bính hỏa lại ở vào những ngày đông tháng giá mà không có ánh sáng, không có Tỷ Kiếp xuất ra để giải băng hàn, thì không đủ để cứu giúp, cho nên có Bính thấu, thì chỉ có thể bằng lòng với
    ykhâmvậy.

    Hoặc Tứ trụ nhiều Nhâm mà không Giáp, chính là làm khí mệnh tòng Sát, cũng có con đường thanh vân ( quý tộc, quý phái).


    Bính lâm tháng Tý, khí thế đã tuyệt, tứ trụ nhiều Nhâm mà không có Giáp, lấy khí mệnh tòng Sát luận, dưới chi lấy hội thủy cục hoặc toàn phương Bắc là đẹp. Đây chính là biến cách vậy.

  2. Cảm ơn bởi:


  3. #92
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,079
    Hoặc thủy nhiều có Giáp mà không có Mậu, lại không phải tòng sát, thích hợp với dụng Kỷ thổ làm vẩn đục Nhâm, Bính hỏa sinh vào tháng 11 với Bính hỏa sinh vào tháng 10 có phần giống nhau.

    Trọc Nhâm tức là hỗn Nhâm, cách dụng giống với tháng 10. Nhưng tháng 10 Giáp mộc cung Hợi có khí, nếu như Giáp mộc không thấu, có thể dụng Giáp trong cung Hợi
    . Nếu như sinh vào tháng 11, không có Giáp mộc xuất can thì không thể được, lại càng cần có Tỷ Kiên Bính hỏa trợ giúp, thủy thổ băng hàn, không có Bính hỏa, mộc không có sức sống vậy, hoặc gặp chi Dần cũng khả dụng.

    Tóm lại: Bính hỏa sinh vào tháng 11, Giáp không thể thiếu, cho nên kị thổ làm mờ ánh sáng, do đó dụng Giáp để phá. Nếu như dụng Nhâm, thủy mùa Đông thành băng đá, không gặp Tỷ Kiên, cần xem xét khi dụng.


    Bính hỏa sinh vào tháng 11, ở đất Suy tuyệt, khí thế Hưu tù, không thể không có Giáp để sinh, thủy vượng không thể không có Mậu chế. Mà hỏa Suy tuyệt, gặp thổ làm mờ ánh sáng, không dụng Giáp phá thổ thì không hiển đạt, nói như vậy là dụng thổ chế Nhâm thủy vậy. Giữa mùa Đông trời thì lạnh đất thì đóng băng, Nhâm thủy thành băng, không có chi thành hỏa cục, can gặp Tỷ Kiên, không thể dụng Nhâm thủy. Cho nên hỏa Suy tuyệt, mà gặp thủy đương vượng,
    phá sự khắc chế của nó thì rễ ràng, mà trở thành cái mà ta dụng được thì khó khăn, vậy phải thận trọng cân nhắc sử dụng sao cho phù hợp.

    Tân Hợi, Canh Tý, Bính Dần, Canh Dần


    Quan Bố chính.


    Theo mệnh tạo này thì khí kim thủy chi năm, chi tháng vượng, mừng được hai Dần ở ngày giờ, trong Dần ám tàng Giáp mộc, lại có Bính hỏa trợ giúp, vận hành phương Nam, thảo nào quý hiển.


    Tân Dậu, Canh Tý, Bính Tý, Quý Tị.


    Dụng Bính là người đức tài nổi bật, tiểu phú.


    Theo mệnh tạo này được, nhật Lộc quy thời, chuyên dụng một điểm Lộc ở chi giờ, sau trung niên, hai vận Ất Mùi Giáp Ngọ mộc hỏa tương sinh, đương nhiên được tốt đẹp đến cuối đời.


    Đinh Tị, Nhâm Tý, Bính Tuất, Mậu Tý.


    Kim hàn thủy đóng băng, Đinh Nhâm đều mất, Mậu hối hỏa quang, nghèo khó còn thêm bệnh tật mà chết.


    Theo mệnh tạo trên, nhật nguyên đắc lộc ở Tỵ, tạo này đắc căn ở Tuất, khí tương đối suy nhược, Đinh Nhâm hợp nhất, cả hai đều mất đi tác dụng của mình, tóm lại là cục thủy vượng hỏa suy, không dụng Giáp mộc thì không thể được, vận hợp với Đông Nam, Tấy Bắc là đất Tử tuyệt của mộc hỏa, nhất định không có ích lợi vậy. Những ví dụ trên trích từ sách Tạo hóa nguyên thược.


    Tân Dậu, Canh Tý, Bính Thìn, Kỷ Sửu.


    Sinh giờ Sửu ngày 3 tháng 12 năm thứ 11 đời vua Hàm Phong.


    Mệnh Đường Thiệu Nghi: Bính hỏa sinh vào giữa Đông, không thể không có Bính Giáp. Tứ trụ này Tý Dậu kẹp Tuất Hợi, Thìn Sửu kẹp Dần Mão, Mão Tuất, Dần Hợi tương hợp, thành ám Kiếp ám Ấn, lấy mộc hỏa hư thần làm dụng, địa vị đủ hết, cho nên là quý, vận hành phương Nam, vị đến Tổng quản ( tể tướng).


    Tân Mùi, Canh Tý, Bính Tuất, Giáp Ngọ


    Sinh giờ Ngọ ngày 29 tháng 10 năm thứ 10 đời vua Đồng Trị.


    Mệnh Danh y Hạ Ứng Đường: Ngày hàn trở thành ấm, tuy gặp Ngọ Tuất hội cục, vẫn dùng Giáp mộc, vận hành Ất mộc Giáp mộc, danh trọng một thời, qua đời ở vận Quý.


    Canh Thìn, Mậu Tý, Bính Tý, Canh Dần


    Sinh giờ Dần ngày 12 tháng 11 năm thứ 6 đời vua Quang Tự.

    Mệnh Đàm Đơn Nhai: Chỉ lấy Giáp mộc cung Dần làm dụng, Bính hỏa gặp Mậu thổ thì bị hối mờ ánh sáng, chính là không Quý, Mậu thổ chế thủy sinh Tài, khiến Giáp mộc đắc dụng mà tận lực sinh phù , chính là phú cách, vận hành Đông nam, giữ chức giám đốc Ngân hàng Đại Lục. Bất ngờ mất ở năm Quý Dậu, hưởng thọ 54 tuổi.


    Giáp Tý, Bính Tý, Bính Dần, Bính Thân.


    Sinh giờ Thân ngày 29 tháng 11 năm thứ 3 đời vua Đồng Trị.


    Mệnh thương gia buôn muối Chu Tương Thương: Chỉ dụng Giáp mộc, lại có Bính hỏa để trợ giúp. Song phú trọng quý khinh, là do không có Nhâm thủy để bổ trợ cho ánh chiếu sáng được rực rỡ, khí sáng tỏ không đủ, qua đời ở vận Mùi năm Giáp Tuất.


    Kỷ Mão, Bính Tý, Bính Tý, Đinh Dậu.


    Sinh giờ Dậu ngày 7 tháng 11 năm thứ 5 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Hồ Hán Dân: Tý là nơi hoàng đế ngồi (1), năm Mão giờ Dậu, Đông Nam đối vị, Mão Dậu là cửa nhật nguyệt ( ngày tháng) ra vào,
    Tài Quan Ấn Tam Kỳ đều đầy đủ, tượng đại quý, chỉ tiếc Thương cư trên Ấn, Kiếp lâm Tài địa, sinh ở trước Đông chí, nhất dương cùng hồi phục. Phàm không có vận mộc hỏa tương trợ, chưa thành công mà đã qua đời, tiếc quá!

    Quý Mùi, Giáp Tý, Bính Tuất, Tân Mão.


    Giờ Mão ngày 9 tháng 11 năm thứ 9 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Trương Hồng Chí: Không có Nhâm dụng Quý, Quan tinh thừa vượng nắm lệnh, lại được Giáp mộc sinh trợ, chỉ tiếc Bính Tân hợp nhất, Nhật nguyên luyến Tài và không hướng về Quan Ấn, Dụng thần không chuyên trở thành bệnh vậy, vị đến Tổng thư ký viện hành chính. Lại mệnh Uông Lịch Viên: giờ Nhâm Thìn, năm tháng giờ đều giống nhau, Nhâm thủy xuất can, vị đến Trưởng đại lý viện ( Tòa thượng thẩm).


    Ghi chú
    :
    1/ Tý là nơi hoàng đế ngồi: Tý là hướng Bắc, Hoàng đế là ám chỉ sao Tử vi hay còn gọi là sao Bắc cực. Ngôi sao này trong Tử vi coi nó là vua của các vì sao. Trong thiên văn học thì nó nằm ở trong tròm sao Tiểu hùng tinh.

  4. Cảm ơn bởi:


  5. #93
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,079
    Bính hỏa sinh vào tháng 12
    Tháng 12 khí tiến nhị dương, lấn át tuyết ức hiếp sương, nên trước là lấy Nhâm làm dụng, Kỷ thổ tư lệnh, Kỷ nhiều cần phải dụng Giáp làm phò tá.


    Bính hỏa không sợ thủy khắc mà chỉ sợ thổ tiết, mặt trời chiếu xuống sông hồ, ánh sáng của nó đặc biệt lóng lánh, không có Nhâm không thể đạt được phú quý, không có Giáp không thể sinh Bính, thổ dù có hay không dù nhiều hay ít thì cũng vậy. Nhưng Kỷ nhiều thì không thể không có Giáp.


    Nhâm Giáp cùng thấu, nhất định khoa bảng, cho dù phong thổ kém, có thể bằng lòng với Cống Giám (1), Giáp tàng, không quá tú tài. Hoặc không có Giáp mà một Nhâm thấu, trong phú có quý, ba tháng mùa xuân đều có lợi.


    Nhâm Giáp cùng thấu, nhất định quý ở khoa bảng, Giáp tàng mà vận trình Đông nam, mộc hỏa đắc địa, cũng có thể đạt được quý vậy. Tháng 12 Kỳ thổ nắm lệnh, vô hình trung, hối Bính làm vẩn đục Nhâm, không có Giáp không thể có quý hiển, song gặp Nhâm thấu, tức có tượng ánh sáng óng ánh rực rỡ. Như vậy đó là lý do ba tháng mùa xuân đều có lợi vậy, chỉ phú trọng mà quý khinh mà thôi.


    Hoặc một bầy Kỷ thổ, không thấy Giáp Ất, gọi là giả Thương quan cách, tính thông minh kiêu ngạo, ngày Đông không có ôn loãn, cho nên là giả danh giả lợi. Nếu gặp Giáp mộc, chính là cần lấy Thương quan bội Ấn làm dụng, danh lợi kiêm toàn.

    Hoặc một bầy Quý thủy, Kỷ thổ xuất can, tất nhiên tự sáng lập cơ nghiệp. Nếu Kỷ thổ chế Quý thái quá, lại lấy Tân kim tiết thổ sinh Quý, chắc chắn thấu Quý mới đẹp, tuy không thành danh, nhưng là con người tao nhã phong độ.

    Kỷ Quý Tân trong Sửu đồng cung, Kỷ Quý xuất can, nguyệt lệnh đồng cung đắc dụng, chắc chắn là người sáng lập, được Tân kim cùng xuất, tiết Kỷ sinh Quý, là hỷ dụng đồng cung tụ khí, chứng cớ quý hiển vậy, tức không thành danh, thì cũng là người tao nhã phong độ vậy. Hỷ dụng đồng cung cũng là một trong những cách xem. Nếu như hợp với yêu cầu của nhật nguyên, mà đắc dụng, nhất định mệnh quý hiển. Cho dù không đắc dụng thì cũng là một loại bằng chứng quý hiển đầy đủ vậy.

  6. Cảm ơn bởi:


  7. #94
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,079
    Quý Mão, Ất Sửu, Bính Ngọ, Nhâm Thìn.
    Quan Thống lĩnh.


    Theo mệnh tạo này thì nhật nguyên tọa Nhận, Thất sát xuất can, Sát Nhận cách ấy mà, kì diệu là ở hai chữ Ất Mão, Chính Ấn đắc Lộc, Thìn Ngọ kẹp Tị Lộc, Sửu Mão kẹp Trường Sinh ( Dần), nhật nguyên ám vượng, hành kim thủy vận, có Ấn hóa, hợp với làm đại quý cách.


    Ất Sửu, Kỷ Sửu, Bính Dần, Canh Dần.


    Hai Giáp chế thổ. Quan án sát.


    Theo mệnh tạo này có hỏa thổ Thương quan bội Ấn vậy, không có Ấn sao có thể đạt được quý hiển vậy.


    Ất Dậu, Kỷ Sửu, Bính Dần, Kỷ Sửu.


    Kỷ nhiều thì dụng Giáp phá, Giáp lại Lộc tại Dần, Dụng thần đắc vị. Trạng nguyên.


    Theo mệnh tạo này, chuyên dụng Giáp mộc trong Dần Kỷ thổ tiết tú khí của Bính hỏa, thông minh sẵn có, Thương quan thái trọng, tất nhiên lấy Thương quan bội ấn làm dụng.


    Kỷ Sửu, Đinh Sửu, Bính Ngọ, Canh Dần.


    Dụng Giáp chế Kỷ. Đề danh nhất bảng.


    Theo mệnh tạo này thì hỏa thổ Thương quan mà Dần Ngọ hội cục, cũng là Thương quan bội Ấn.


    Kỷ Tị, Đinh Sửu, Bính Tuất, Canh Dần.


    Cũng dụng Giáp mộc. Nhất bảng đề danh.


    Giống với mệnh tạo trên.


    Ất Tị, Kỷ Sửu, Bính Thân, Quý Tị.


    Dụng Tân đắc kim cục. Tay trắng mà thành danh.


    Theo mệnh tạo này thì Bính lâm Thân vị, khí thế quá yếu, may mắn hai Tỵ trụ năm trụ giờ, Bính hỏa đắc lộc, Tị Sửu hội cục, Thương quan dụng Tài, là nhân vật trong giới thương nhân,
    Quý thủy phá Thương, cho nên không quý vậy. Các ví dụ trên trích ra từ sách Tạo hóa Nguyên thược.

    Mậu Tuất, Ất Sửu, Bính Thìn, Mậu Tuất.


    Sinh giờ Tuất ngày 30 tháng 11 năm thứ 30 đời vua Càn Long.


    Mệnh Đào Chú: Thổ trọng mà chân thực, cách thành Giá sắc, sinh trước Đại hàn 3 ngày, trời lạnh đất đóng băng, mừng ngày Đông ấm áp, lấy Ất mộc làm dụng, trở thành hỏa thổ Thương quan vậy. Trích Thiên Tủy nói rằng: Cục tử vượng mẫu Suy, cần trợ giúp mẫu, vận hành phương Nam, thổ ấm mà nhuận sinh, vận vật tranh đua sinh trưởng. Vận Tỵ năm Nhâm Ngọ nhậm
    chức hoàn phủ ( tỉnh An Huy). Vận Ngọ năn Canh Dần làm Tổng đốc hai tỉnh Lưỡng Giang (2), thổ ấm áp mà sinh, rõ ràng có thể thấy rõ vậy, bất ngờ vào vận Mùi năm Kỷ Hợi, thọ 62, Thụy hiệu là Văn Nghị.

    Tân Dậu, Tân Sửu, Bính Dần, Nhâm Thìn.


    Sinh giờ Thìn ngày 13 tháng 12 năm 11 đời vua Hàm Phong.


    Mệnh Ấn quang lão pháp sư: Tài vượng Sát cao, chuyên dụng mộc viêm cung Dần, Dần Thìn kẹp Mão, khí tụ phương Đông, Mão là điều quý của Nhâm thủy, Bính quý ở Dậu, Tân quý ở Dần, mãn bàn ( toàn cục) Thiên ất rồi gặp Hoa cái, hợp với con đường Tăng đạo, vận hành Ất Mùi Giáp Ngọ, danh khắp thiên hạ, đến vận Quý bế quan tu dưỡng.


    Đinh Mão, Quý Sửu, Bính Thân, Mậu Tý.


    Sinh giờ Tý ngày 17 tháng 12 năm thứ 6 đời vua Đồng Trị.


    Mệnh Thái Tử Dân: Chuyên lấy Kiếp Ấn trụ năm làm dụng, vãn niên vận hành phương Nam, giữ chức Viện trưởng viện nghiên cứu trung ương.


    Bính Tý, Tân Sửu, Bính Thân, Mậu Tý.


    Sinh giờ Tý ngày 10 tháng 12 năm thứ 2 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Tào Nhữ Lâm: Bính Tân tranh hợp, không có Thìn không lấy tòng hóa luận, lấy Tân kim tiết thổ để bảo vệ Quan tinh Tý thủy, tuy gặp nhị dương tiến khí, cuối cùng vẫn hiềm thân nhược, hành vận phương Đông, giữ chức Bộ trưởng tài chính giao thông.


    Quý Mùi, Ất Sửu, Bính Dần, Canh Dần.


    Sinh giờ Dần ngày 20 tháng 12 năm ( tất) đời vua Quang Tự.


    Mệnh Trử Dân Nghị: Hai Dần ở trụ ngày và giờ, nhị dượng tiến khí, Bính hỏa vượng tướng, lấy Canh Dần tiết Kỷ thổ sinh Quý thủy, hỷ Quý thủy xuất can, giữ chức Tổng thư kí viện hành chính.


    Mậu Tuất, Ất Sửu, Bính Tuất, Quý Tị


    Sinh giờ Tỵ ngày 7 tháng 12 năm 24 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Thượng Tiểu Vân: Quý thủy xuất can, Mậu thổ thương hại, thổ trọng thương Quý, chỉ là đào kép tiếng tăm.


    Ghi chú:
    1/ Cống Giám: Trong chế độ khoa cử đây là một trong những danh mục của Giám sinh. Triều đại nhà Minh, Thanh lấy tư cách của Giám sinh vào Quốc tử giám học tập thì gọi là Cống Giám.

    2/ Lưỡng Giang: Đầu đời Thanh chỉ hai tỉnh Giang nam và Giang Tây, sau đời Khang Hi, Giang Nam phân thành hai tỉnh GiangTô và An Huy. Nay cả ba tỉnh vẫn gọi là Lưỡng Giang, Trung Quốc.



  8. #95
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,079
    Thể theo nguyện vọng của các bạn mình sẽ pót các can dương trước, còn can âm mình sẽ hoàn thiện sau.

  9. #96
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,079
    Luận về Mậu Thổ

    Sự giống nhau của Mậu thổ tháng giêng, tháng 2 và tháng 3.

    Mậu thổ sinh vào 3 tháng mùa Xuân, không có Bính chiếu sáng sưởi ấm, Mậu thổ không thể sinh trưởng, không có Giáp khai thông, Mậu thổ không linh hoạt, không có Quý tưới nhuần, vận vật không thể phát tiển. Tháng Giêng tháng 2 trước dụng Bính sau dụng Giáp, thứ nũa mới đến Quý. Tháng 3 trước thì dụng Giáp sau dụng Bính, thứ nữa cũng mới đến Quý. Nguyên do là Mậu thổ tư lệnh, cho nên trước dụng Giáp mộc vậy. Phàm trong bát tự Bính Giáp Quý đồng loạt cùng thấu, phú quý cực phẩm. Nhưng sớm muộn cần có vận trình, hoặc hai thấu một tàng, cũng chủ khoa giáp, hai tàng một thấu, hiển đạt theo một con đường khác
    biệt nào đó, hoăc chỉ đến tú tài mà thôi.

    Tổng luận Mậu thổ sinh vào 3 tháng mùa Xuân, Mậu thổ Trường Sinh tại Dần, mà Giáp mộc cung Dần Lâm Quan, mộc vượng thổ sụp đổ, làm cho thế ( thổ) sẽ nghiêng lệch mà sụt lở, có Bính thì thổ chân thực, không có Bính thì thổ hư. Cho nên trước lấy Bính làm dụng, khí thịnh dương hòa, Mậu thổ không thể sinh, sau dùng đến Quý làm bổ trợ, thổ nhiều mà dầy đặc, thì lấy Giáp làm dụng, cũng lấy Quý thủy làm phò tá. Mậu thổ sinh vào 3 tháng mùa Xuân phương pháp thủ dụng ( lấy dụng thần), không ngoài những điều này. Bính Quý sinh vào mùa xuân, trời không nắng không mưa. Cho nên hai can Bính Quý, khi dùng mà không gây cản trở lẫn nhau, mỗi cái có được tác dụng của nó là đẹp. Hoặc Bính Quý đều thấu tức là Quan Ấn đầy đủ, phú quý cực phẩm. Song khi dụng cũng có trước sau, có thể lấy Sát Ấn hoặc chỉ chọn Sát, coi xét sự phối hợp của cách cục mà xác định.

    Tháng giêng tháng hai thích hợp với Bính thấu trước, tháng 3 thích hợp với Giáp thấu trước. Do đó tháng giêng tháng 2 tuy có Quý Giáp, không có Bính cũng khó giải khí lạnh, mưa gió nhớp nháp chìm ngập, vận vật sinh ra mà không thể phát triển được. Cho nên không có Bính, thì cả đời thành bại, phú quý gian nan. Hoặc có Bính mà không có Quý Giáp, gọi là mùa Xuân bị khô hạn, như vạn vật sinh ra mà gặp nhiều tai ách, không có Giáp Quý, một đời lao khổ, cực khổ mà chẳng có sự nghiệp gì.

    Bây giờ xin được tường thuật về cách lấy dụng thần của Mậu thổ trong tháng giêng tháng 2. Hai cung Dần Mão là đất mộc thần Lâm quan Đế vượng, cho nên dụng thần đầu tiên chọn Bính hỏa, Sát Ấn tương sinh, là thượng cách nhất. Táo thổ mà không thể sinh, do đó lấy Quý thủy nhuận trạch làm phò tá. Nếu như Bính hỏa quá nhiều, chi thành hỏa cục, thì trước tiên lại phải lấy Quý thủy. Tóm lại: Mậu thổ ở tháng giêng tháng 2, không rời Bính Quý, tùy theo đó mà phân ra sử dụng trước sau sao cho phù hợp, nói như vậy chính là sự phối hợp của cách cục vậy. Nếu luận khí hậu mùa ( mùa và thới tiết), đầu Xuân thích hợp với dụng Bính, giữa Xuân dương tráng phù hợp với dụng Quý, đầu Xuân không có Quý, có thể chỉ dụng Bính hỏa, duy chỉ cách cục không được hoàn mĩ mà thôi, giữa Xuân không có Bính, không thể dụng Quý. Bởi vì mùa gặp mộc vượng, Tài tinh đảng Sát, tất nhiên khắc thân. Vậy hai kẻ Bính Quý này sở dĩ có phân ra trước sau khi sử dụng là như vậy.

    Hoặc nhất phái Bính hỏa, hai can mà có Giáp thiếu Quý cho nên có phân ra trước sau khi sử dụng vậy.
    Hoặc nhất phái Bính hỏa, có Giáp thiếu Quý, trước bình an sau xấu hỏng, hoặc chi thành hỏa cục, không thấy Nhâm Quý, tăng đạo cô bần, Quý thấu thì quý, Nhâm thấu thì phú, khi dụng Nhâm cần xem sự nhiều ít của thủy.

    Thủy nhuận trạch đều không lấy đó làm nhiều, thủy nhiều lại tránh ẩm ướt nặng, thích hợp với Bính hỏa để sưởi ấm, Tỷ Kiếp theo đó mà phân rõ.
    Cho nên cần phải trình bầy sự nhiều ít của thủy một cách tỷ mỉ rõ ràng, theo phương pháp luận Tài Ấn ở bên trên.

    Hoặc nhất phái Giáp mộc, mà không có Bính, thường nhân, được một Canh thấu, chủ phú quý, hoặc chi thành mộc cục, Giáp lại xuất can, lại có Canh thấu, nhất định chủ khoa Giáp, phú quý phi thường.

    Tiếp theo luận đến Quan Sát, Giáp mộc làm Sát, không có Ấn dẫn hóa, tức là phải dụng Thực thần chế, (
    dụng Ấn giống với cách dụng Bính Thân ( Giáp) trên ???). Một bầy Giáp mộc. Nói đến tiết tháng giêng, thì chi thành mộc cục. Nói đến tiết tháng 2, đều lấy Mậu thổ lâm ở Thìn Tuất, nhật nguyên hiển nhiên vượng mà làm điều kiện chủ yếu, thân cường Sát vượng có chế, tự nhiên phú quý, sinh vào tháng Giêng, bản thân cung Dần có Bính hỏa, mộc cục lại tàng thủy, phú và quý lưỡng toàn.

    Hoặc không có Canh kim, không thấy Tỉ Ấn, không lấy tòng Sát luận, không phải đại xấu thì cũng bị hung, nhất định là phường đạo tặc ( trộm cắp). Nếu như dưới Nhật nguyên tọa Ngọ, không được chết một cách an lành. Nối tiếp đoạn văn trên. Mậu thổ kí sinh ở Dần, nguyệt lệnh ám tàng Tỉ Ấn, ( trong Dần có Bính, trong Mão có Ất) không thể nói tòng, Sát vượng thân Suy, nhất định chủ gặp hung họa. Nhật nguyên tọa Ngọ Dương nhân, trong cung Dần Ngọ đều tàng Ấn, có tượng chết một cách không được an lành vậy. Cùng Thông Bảo Giám lấy nhật nguyên tọa Giáp, gọi là Mậu Dần vậy, cũng hiểu.

    Hoặc nhất phái Ất mộc, danh quyền Quan hội đảng ( hội tụ được cả danh, quyền, chức tước), tức là có Canh tòng, cũng khó chế Kỷ, người này trong thì gian trá ngoài thì chính trực, miệng nói một đằng tâm nghĩ một nẻo, khó giao du với nhau. Thêm một Giáp mà ở trong không có Canh, nhất định lười biếng mà bản thân phải cam chịu, có lòng tham không đáy mà không thỏa mãn, hoặc Bính nhiều Mộc nhiều, thích hợp với Quý Canh cùng tham gia sử dụng.

    Trên luận về dụng Sát. Bây giờ luận đến dụng Quan, Ất mộc tháng 2 thừa quyền, quyền Quan hội Đảng tức chi thành mộc cục vậy, Canh kim gặp Ất,
    rõ ràng để mất sự tương hợp, đi ngược lại ý nghĩa tương khắc vậy, cho nên nói cũng khó chế Ất. Nếu cách vị không hợp, đương nhiên là không có khuyết điểm này, thêm một Giáp ở trong, là Quan Sát hỗn tạp, không được Canh kim trừ bỏ Quan Sát, nhất định là người lộc mỏng, gặp ở dưới tiết Quan Sát hội Đảng, Thất sát vô chế, đó là người nhất định thiếu hụt lý trí, bản thân không thể tự có khí tiết vậy,Bính nhiều mộc nhiều, dương tráng mộc khát, cũng giống tiết một bầy Bính hỏa và tiết một phái Giáp mộc đã nói ở trên, theo cách luận dụng Mậu thổ ở tháng giêng tháng 2 đã nói ở trên.

    Tháng 3 Mậu thổ tư lệnh, không thấy Giáp Quý Bính là người bần tiện vô dụng. Quý thấu chủ khoa bảng, Bính thấu chủ phải cam chịu cống nạp quần áo mà đau khổ, Bính thấu Giáp tàng, không có Quý thì phú, có Quý thì hiển đạt theo một con đường đặc biệt nào đó.
    Tổng luận Mậu tháng 3, thổ tháng 3 thổ vượng đương quyền, Giáp mộc làm dụng thần đầu tiên, lấy Quý thủy làm phò tá. Lấy Tài sinh Sát làm thượng cách, lấy Ấn hóa Sát làm thứ cách, Quý thấu Giáp xuất can, Quý làm phò tá vậy. Bính thấu Giáp xuất can, Bính làm phò tá vậy. Cho nên Bính thấu Giáp tàng không có Quý, phú mà không quý, có Quý là Tài sinh Sát nhược, trong Phú đạt được quý.

    Nếu Bính nhiều vô Quý, ruộng khô há có thể gieo trồng được ư, những loại mệnh tạo này trước thì giầu sau thì nghèo. Hoặc hỏa nhiều có Nhâm thấu thì trước nghèo sau giầu. Quý thấu, trước thì hèn sau thì quý, Nhâm tàng chỉ có y Lộc, song cũng chỉ đủ ăn, Quý tàng chỉ có tài năng, song cũng chỉ là thày giáo giỏi mà thôi, Nhâm Quý đều tàng, cả đời sung túc, chỉ cần vận đẹp. Hoặc chi thành hỏa cục, được Quý thấu thì giành được phú quý nhàn hạ, Nhâm thấu phú quý khó thành, sao vậy? Quý chính là nắng hạn gặp mưa rào, đó là lý do hiển nhiên, Nhâm chính là Sông Hồ gợn sóng, đó là lý do rất miễn cưỡng vậy. Cho nên có sự khác biệt giữa thanh nhàn và vất vả vậy.

    Bây giờ luận đến Ấn nhiều dụng Tài phá Ấn, có Bính mà không có Quý, giống như ruộng khô hạn, trước bình an sau bế tắc ( khốn cùng), hơi giống tháng giêng tháng 2, Nhâm Quý đều là tư nhuận mà các dụng không giống, dụng Nhâm thì phú, dụng Quý thì quý, Nhâm Quý tàng chi, cần phải hành vận dẫn xuất, mới có thể phú quý, chỉ cần vận tôt, ý là nói mệnh có khuyết, đợi đến vận tham gia trợ giúp vậy. Sau luận đến dụng Nhâm dụng Quý có sự khác nhau giữa vất vả và nhàn hạ. Quý như mưa móc, đương nhiên nhuận trạch, cho nên giành được phú quý an nhàn. Nhâm như sông hồ, lấy sức người dẫn nước tưới tiêu ruộng đồng, cho nên phú quý khó thành, đây chính là sự khác biệt trong tính chất của Nhâm Quý vậy.

    Lại tiếp Bính nhiều mà không có Quý, chỉ có được sự che chở phù hộ mà không có phúc trạch, cho nên chủ trước phú quý sau bần tiện. Hỏa nhiều có Nhâm Quý để cứu, tức Ấn là bệnh thần, Tài là thuốc tốt, lại chủ trước thì bần tiện mà sau thì phú quý, cần dựa vào lý lẽ thích hợp mà không nên cố chấp, cần phải xem xét xác định hỉ dụng ở trụ năm hay trụ giờ. Sớm muộn gì sự tốt xấu của vận mệnh cũng đều có mối quan hệ. Mậu Quý tương hợp, tình ý của Tài hướng về nhật chủ khí của nó chuyên thuộc đương nhiên an nhàn mà phù hợp vậy. Nhâm gặp Mậu thì lại vô tình bởi vì ta mà chế, không phải cái mà ta có thể sở hữu sử dụng, cho nên khó khăn gian khổ vậy. Sách lấy Chính Tài là tiền tài của mình, Thiên tài là tài sản của mọi người, cũng là ý này vậy. Ở trên luận Ấn nhiều dụng Tài. Nếu như Tài nhiều dụng Kiếp Ấn, có thể chiếu theo chỗ này mà suy đoán.

    Chi thành mộc cục, lại Giáp Ất xuất can, đây gọi là Quan Sát hội đảng, Quan Sát không có nghĩa khứ lưu, được một Canh thấu, loại bỏ Quan Sát, nhất định phú quý không lớn, không có Canh quả là người lộc ít. Tuy có thể tụ Tài, liên tiếp bị họa mà triệt tiêu, không thể được thừa hưởng, thích hợp với dụng hỏa tiết mộc khí. Có một mệnh tạo: Đinh Mùi, Quý Mão, Mậu Dần, Ất Mão, mệnh này Quan Sát không có ý nghĩa khứ lưu, may có Đinh hỏa xuất can, hơn nữa Mậu Quý hóa hỏa, làm cho Giáp mộc ám thiêu trái lại giữ chức Thám Hoa (1) Võ khoa.
    Nói như vậy là dụng Quan Sát, Quan Sát cùng gặp, luận Sát không luận Quan. Cho nên mới nói Quan Sát không có ý nghĩa khứ lưu, Mậu thổ lấy gặp Giáp mộc làm quý, tứ quý đều giống nhau, Ất mộc Quan tinhkhông có lực để khai thông thổ, uổng phí mà làm hỗn tạp mà thôi. Quan Sát khí tạp, tuy có Canh kim, phú quý không lớn, không có Canh không quý, Quan Sát tuy có thể chế Kiếp hộ Tài. Cho nên mới nói Tài tuy tụ mà vẫn dẫn đến tai họa vậy. Quan Sát vượng mà vô chế, tuy lấy Đinh hỏa tiết khí mộc, Quý hợp với Mậu, không thương hại Đinh hỏa, không phải hóa hỏa vậy, hỏa thổ thiên về hanh khô, quý mà vũ dũng ( vận hành kim thủy mà phát, có thể vẫn dùng Quý thủy, chỉ dụng thần bị thương mà thôi). Hoặc mộc nhiều không có Tỉ Ấn, lấy tòng Sát luận, chủ đại phú quý. Hoặc có Tỉ Ấn lại cần phải vào tháng giờ lấy Quý thủy để thành quý cách. Quý không có hỏa không có kim, lại gọi là Thổ Mộc giao chiến, chủ trong người đau ốm bệnh tật, ưu sầu gian khổ, cuối cùng lại không được trọng dụng.

  10. #97
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,079
    Tiếp theo đoạn văn trên, tứ trụ không có Tỉ Ấn thì lấy tòng Sát luận. Bởi thế Mộc ở ba tháng mùa Xuân làm chủ, thổ làm khách, ( nương nhờ mà vượng) khách tuy cường, không có lý xua đuổi chủ. Nếu như chi thành phương cục, cũng lấy tòng luận vậy, đặc biệt thổ tháng 3 vượng nắm quyền, tòng Sát rút cuộc không phải rễ ràng, nên cân nhắc khi chọn. Nhật nguyên có Tỉ Ấn tương phù, hỏa thổ viêm táo, chuyên chọn Quý thủy lấy thành quý cách. Gặp ở tiết Bính nhiều không có Quý ở trên, Mậu thổ 3 tháng mùa Xuân mà không có Giáp Quý Bính làm dụng, gọi là thổ mộc tự giao chiến, thân nhược thì tàn tật, thân cường thì là người vô dụng.

    Người dụng Gáp, thủy làm thê mộc làm tử, tử suy. người dụng Bính, mộc làm thê hỏa làm tử, thê hiền

    Mậu thổ sinh vào 3 tháng mùa Xuân, không ngoài dụng Bính, Quý làm phụ tá, xem đoạn văn trên sẽ thấy rõ ràng, Mộc có thể khai thông thổ, cho nên tử suy mà thể hiền. khi dụng Quý thủy xem giống tháng tư ở dưới.

    Ghi chú:

    1/ Thám Hoa: Học vị dưới trạng nguyên và bảng nhãn, thời xưa

    Những ví dụ về Mậu thổ sinh vào tháng giêng.

    Bính Dần, Canh Dần, Mậu Thìn, Canh Thân.

    Bính Giáp Quý đều đầy đủ, giữ chức tướng quân, kiêm cách chọn Thất sát.

    Theo mệnh này thì Thìn hội cục, Mậu thổ không bị khô hanh, chuyên dụng Bính hỏa, Giáp mộc cung Dần sinh Bính, Sát Ấn tương sinh, kiêm cách chọn Thất sát, Canh kim chẻ Giáp, Thực Thần chế Sát vậy.

    Tân Tị, Canh Dần, Mậu Dần, Giáp Dần.

    Hỏa nhiều không có thủy, bần tiện. Tam Kỳ cách.

    Đinh Tị, Nhâm Dần, Mậu Thìn, Bính Thìn.

    Quý vận chết yểu.

    Mậu Thân, Giáp Dần, Mậu Dần, Đinh Tị.

    Được tiến cử Tú tài, Giáp thấu Bính tàng lại thiếu Quý đây chính là nguyên do vậy.

    Tân Mão, Canh Dần, Nhâm Ngọ, Giáp Dần.

    Sinh giờ Dần ngày 28 tháng giêng năm thứ 11 đời vua Đạo Quang.

    Mệnh Lý Đình Bá: Thân vượng Sát cao chế, vị đến Phương Bá.
    ( Bá: Tước vị đứng hàng thứ ba trong 5 tước - công, hầu, bá, tử, nam - thời phong kiến).


    Bính Tuất, Canh Dần, Mậu Ngọ, Nhâm Tuất.

    Sinh giờ Tuất ngày 24 tháng giêng năm 12 đời vua Đạo Quang.

    Mệnh Dương Sâm: Giáp mộc thừa lệnh, Bính hỏa xuất can, Sát Ấn tương sinh, quý nắm binh quyền, Dần Ngọ Tuất hội cục, lại được Nhâm thủy xuất can, cho nên phú.

    Canh Dần, Mậu Dần, Mậu Dần, Giáp Dần.

    Sinh giờ Dần ngày 8 tháng 2 năm thứ 16 đời vua Quang Tự.

    Mệnh Trương Quần: Chuyên dụng Bính hỏa trong Dần, kiêm cách là Thực thần chế Sát vậy. Chức đến chủ tịch tỉnh.

    Giáp Ngọ, Bính Dần, Mậu Tý, Nhâm Tuất.

    Giờ Tuất ngày 10 tháng giêng năn thứ 20 đời vua Quang Tự.

    Tứ trụ của Phu nhân Hoàng Nhiệm Bạch: Giáp Bính Quý đều đầy đủ, phu tinh đương vượng, Tài quy về tọa ở dưới. Mệnh phú quý lưỡng toàn.

    Ví dụ về Mậu thổ sinh tháng 2.

    Bính Thìn, Tân Mão, Mậu Thìn, Canh Thân.

    Hóa tan ( bỏ) Bính hỏa, lại vô Giáp mộc, chỉ tồn Quý thủy. Song có thể đạt được tú tài. Lục thân lạnh nhạt hoặc có ít.

    Quý Mùi, Ất Mão, Mậu Dần, Bính Thìn.

    Quý Bính Giáp đủ cả, được tấn phong làm Quan Lang trung ( Lang trung: Tên chức quan ngày xưa).

    Quý Mùi, Ất Mão, Mậu Dần, Nhâm Tý.

    Bính Giáp đắc ngôi ( ngôi Dần), Tý Quý xuất can. Nhất bảng.

    Đinh Mão, Quý Mão, Mậu Dần, Nhâm Tý.

    Nữ mệnh: Bính Giáp Quý đắc ngôi, ( Giáp Bính được ngôi Dần, Quý được ngôi Tý. Cho nên cũng hiểu là Bính Giáp Quý được căn).

    Kỷ Hợi, Đinh Mão, Mậu Tý, Đinh Tị.

    Giờ Tỵ ngày 22 tháng 2 năm thứ 19 đời vua Đạo Quang.

    Mênh Đồ Liên Thăng: Giáp Bính Quý đều tàng, Hợi Mão hội, Ấn vượng dụng Tài, lại hành đất Tài vượng, làm danh tướng dưới trướng của chủ soái Bào Siêu. Khí tạp không thanh, tuy quý mà còn vũ dũng.

    Ất Mão,, Kỷ Mão, Mậu Tuất, Nhâm Tuất.

    Sinh giờ Tuất ngày 5 tháng 2 năm thứ 5 đời vua Hàm Phong.

    Mệnh Niếp Tập Quy: Chuyên dụng Quan tinh. Quan đến Tuần phủ.

    Kỷ Mùi, Đinh Mão, Mậu Ngọ, Nhâm Tý.

    Sinh giờ Tý ngày 17 tháng 2 năm thứ 9 đời vua Hàm Phong.

    Mệnh Lý Kinh Nghĩa: Mão Mùi hội cục, để sinh Đinh hỏa, Ấn vượng dụng Tài làm chính cách, nguyệt lệnh Quan tinh gặp Dương nhận cung Ngọ, Quan Nhận tương chế, làm phụ cách. Phú nói rằng: Tháng Nhận ngày Nhận và giờ Nhận, gặp Quan Sát thì quang vinh tháo vát, công danh cái thế, vận nhập Tài hương, nắm khuê phòng khai phủ ( ND: Ý nói lấy đươc vợ quý mà còn mở phủ riêng của mình), quý mà kiêm phú.

    Nhâm Tuất, Quý Mão, Mậu Thìn, Bính Thìn.

    Sinh giờ Thìn ngày 15 tháng 2 năm đầu đời vua Đồng Trị.

    Mênh Lao Sùng Quang: Bính Quý đều thấu. Xuất thân tiến sĩ, vị đến Tổng đốc.

    Tân Mão, Tân Mão, Mậu Tuất, Nhâm Tuất.

    Sinh giờ Tuất ngày 4 tháng 2 năm 17 đời vua Quang Tự.

    Mệnh Vạn Diệu Hoàng: Trước có nói đến mệnh tạo của Đồ Liên Quy. Hai Đinh cùng thấu, dụng Tài phá Ấn sinh Sát. Tứ trụ này hai Tân xuất can, cũng dụng Tài hóa Thương sinh Sát, khí tạp không thanh. Vị đến sư đoàn trưởng.

    Bính Ngọ, Tân Mão, Mậu Dần, Giáp Dần.

    Giờ Dần ngày 11 tháng 3 năm thứ 22 đời vua Quang Tự

    Mệnh người cháu của Từ Triệu Hòa: Giáp Bính xuất can, Dần Ngọ hội cục, chỉ tiếc không có Nhâm Quý nhuận trạch, Bính Tân hợp nhất làm Bệnh, Tứ trụ khí vượng, tính tình quả cảm có triển vọng. Địa vị trong xã hội không đến múc không tương xứng.

    Quý Tị, Ất Mão, Mậu Thân, Mậu Ngọ.

    Sinh giờ Ngọ ngày 24 tháng Giêng năm thứ 19 đời vua Quang Tự.

    Mênh Bạch Sùng Hi: Thân Ngọ kẹp Mùi, ám củng Mùi quý, Quý quý tại Tị, Ất quý tại Thân, Thiên can bốn chữ đều lâm Lộc quý. Mậu thổ tháng 2, mừng thủy hỏa sinh phù, Quan tinh Ất Mão đương vượng, lấy Tài sinh Quan làm dụng, lại được sự quý của Tam Thai Mão Tị Ngọ, Ất mộc đương lệnh đắc dụng, đương nhiên là tôn sư đứng đầu, là lãnh tụ của vùng Tây Nam ( Tây Nam: chỉ vùng Tây Nam, Trung Quốc, bao gồm Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu, Tây Tạng.).

  11. #98
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,079
    Các ví dụ về Mậu thổ sinh vào tháng 3
    Kỷ Mùi, Mậu Thìn, Mậu Dần, Giáp Dần.

    Sát Ấn tương sinh. Thám Hoa, ( Thám hoa; học vị dưới trạng nguyên và bảng nhãn, thời xưa).

    Giáp Ngọ, Mậu Thìn, Mậu Thân, Bính Thìn.
    Mênh tạo này là của Thanh thánh tổ Khang Hi vậy:
    Tài sinh Sát nhược lấy làm dụng, có thể nói là giờ Mậu Ngọ, kẹp quý kẹp Lộc, càng thêm hoàn mỹ.
    Các mệnh tạo trên lấy trong Sách Tạo Hóa Nguyên Thược.

    Canh Thân, Canh Thìn, Mậu Thìn, Mậu Ngọ.
    Sinh giờ Ngọ ngày 27 tháng 3 năm thứ 5 đời vua Càn Long.
    Mệnh Đổng Văn Cung: Thìn Ngọ kẹp Tị Lộc, chuyên dụng Nhâm thủy cung Thân, được Canh kim tương sinh, bề ngoài giống như Thương quan sinh Tài, thực tế là Ấn vượng dụng Tài vậy.


    Kỷ Mùi, Đinh Mão, Mậu Ngọ, Nhâm Tý.

    Sinh giờ Tý ngày 17 tháng 2 năm thứ 9 đời vua Hàm Phong.

    Mệnh Lý Kinh Ngĩa: Tài Ấn giao sai dụng Quan, Mậu Ngọ Nhâm Tý qua lại tương hợp, quý khí lui tới, vận hành đất Tài Quan vượng, cưới vợ hiền mà còn lập phủ.


    Quý Hợi, Bính Thìn, Mậu Ngọ, Nhâm Tý.
    Sinh giờ Tý ngày 12 tháng 3 năm thứ 2 đời vua Đồng Trị.
    Mênh Đơn Mậu Khiêm: Bính Quý cùng thấu, xuất thân hàn lâm, được tấn phong chức Quan Đại học sĩ.

    Kỷ Tị, Mậu Thìn, Mậu Tý, Quý Hợi.

    Sinh giờ Hợi ngày 16 tháng 3 năm thứ 8 đời vua Đồng Trị.
    Mệnh Vương Thiện Thuyên: Quý thủy thấu can, Giáp Bính tàng chi, tháng 3 thổ trọng, không thể không lấy Giáp mộc khai thông thổ. Vận trình dẫn xuất có thể nói ràng vận trình thẳng tiến.

    Đinh Sửu, Giáp Thìn, Mậu Dần, Bính Thìn.
    Sinh giờ Thìn nhày 22 tháng 3 năm thứ 3 đời vua Quang Tự.
    Mệnh Trần Phù: Giáp Bính xuất can, Quý thủy tàng chi, dụng Tài sinh Sát làm dụng. Vị đến Bộ trưởng. ( Bộ trưởng:chức quan cao nhất trong chính phủ quân phiệt Bắc Dương, Trung Quốc). Nguyên đán năm Mão vận Tuất, bị ám sát mất mạng.

    Quý Mùi, Bính Thìn, Mậu Thân, Đinh Tị.

    Sinh giờ Tỵ ngày 28 tháng 3 năm thứ 9 đời vua Quang Tự.
    Mệnh Giang Tinh Vệ: Quy Lộc cách, lại gặp Lộc Mã đồng hương ( cùng một chỗ ). Mậu Lộc tại Tị, năm Mùi Dịch Mã cũng ở Tỵ. Tháng 3 Mậu thổ, gặp Bính Quý cùng thấu. Ban ngày có nắng có mưa tưới nhuần, vạn vật được đua nhau sinh trưởng, cho nên Bính Quý đều dụng, Bính Lộc tại Tị, Thiên Ất của Quý cũng tại Tị, hội tụ đầy đủ mà đẹp đẽ, bản thân thành đại quý. Thìn Tỵ cung Tốn, Mùi Thân cung Khôn, củng kẹp Ly cung Ngọ hỏa, mà Đinh hỏa xuất can, Thần rút cuộc khí tụ. Thời trẻ hành Ất Mão Giáp Dần vận Quan Sát phá cách, năm Tân Hợi vận Dần âm mưu ám sát thay quyền, mấy lần họa bị sát thân, đến vận Tý xung động cung Ngọ, trấn thủ trung khu, vị đến Viện trưởng Viện hành chính, năm Mậu Dần vận Hợi bị ép rời khỏi vị trị, năm Tân Tỵ găp phong ba.

    Canh Tuất, Canh Thìn, Mậu Ngọ, Bính Thìn.

    Sinh giờ Thìn ngày 14 tháng 3 năm 2 đời vua Tuyên Thống.
    Mệnh Ngô Triệu Niên: Dụng Canh kim tiết thổ khí, Bính hỏa xuất can, Dụng thần bị thương. Năm Đinh sửu tháng 9 năm thứ 26 đời Dân Quốc, chết bởi phục dịch cho Công ty Tiên Thi do bom nổ, năm 28 tuổi.


    Giáp Dần, Mậu Thìn, Mậu Thìn, Giáp Dần.

    Sinh giờ Dần ngày 17 tháng giêng năm thứ 3 đời Dân Quốc.
    Mệnh Chu Bảo Hà: Dần Thìn kẹp Mão, hai Giáp cùng xuất, Mậu Thìn lại phạm Hồng Diễm Đào Hoa. cho nên là mệnh nữ đào kép nổi tiếng.

  12. Cảm ơn bởi:


  13. #99
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,079

    Mậu thổ sinh vào 3 tháng mùa hạ

    Mậu thổ sinh vào tháng 4
    Mậu thổ sinh vào tháng 4, dương khí phát tán ra bên ngoài, hàn khí ẩn vào bên trong, ngoài thì đầy đặn trong thì trống rỗng, không sợ hỏa viêm, không có dương khí thúc đẩy lẫn nhau, vạn vật không thể sinh trưởng, cho nên trước là dụng Giáp mộc khai thông cuốc xới, sau nữa mới chọn Bính Quý làm phò tá.


    Bính Mậu sinh vào tháng 4 đắc lộc, là mùa của hỏa thổ viêm táo. Thổ dày, cho nên trước là lấy Giáp mộc khai thông cày xới, đương dịp Bính hỏa thừa vượng, đề phòng nó thiêu cháy mộc, cho nên dụng Giáp, cần lấy Quý thủy làm trợ giúp. Như Tứ trụ thủy nhiều, ẩm ướt thái quá, lại hợp với Bính hỏa hóa Sát làm dụng. Thổ dày mà trọng nặng, cần Giáp khai thông cày xới, cần trợ giúp thì chọn Quý thủy, hoặc lấy Bính hỏa cần phải xem xét sự táo thấp của thổ mà định đoạt. Tuy Tài Quan Ấn đầy đủ, khi dụng cần phải chú trọng là vậy. Bính thấu Giáp xuất ra, là nhân tài của triều đình, Bính Quý đều thấu, trí thức khoa bảng. Mặc dù thấu một vị,tàng chi mà sở dụng được, cuối cùng không phải thường dân. Mậu thổ sinh vào tháng 4, lấy Giáp Bính Quý cùng nhau làm quý, mà dụng thì đều có điểm trọng yếu, Bính thấu Giáp xuất mà Quý tàng chi, lấy Ấn hóa Sát, Bính là thần đương vượng, chân thần đắc thời đắc dụng, đương nhiên là nhân tài của triều đình. Bính Quý đều thấu, hỏa vượng lấy Quý thủy để cứu vậy. Quý thủy làm dụng. Cho nên là trí thức khoa bảng. Cho dù chỉ thấu một vị, còn lại tàng chi mà sở dụng được. Tứ trụ có Tài, Quan Ấn làm phối hợp, cuối cùng không phải thường dân vậy.

    Nếu nhất phái Bính hỏa, là hỏa viêm thổ táo, tăng đạo cô bần, được một Quý thấu mà Nhâm tàng, nhất định phú quý, hoặc chi tàng một Quý chế Bính, y thực sung túc, cốt nhục vô hình.


    Một bè Bính Đinh không có Nhâm Quý, là hỏa viêm thổ táo, không được Nhâm Quý giúp đỡ cứu trợ, là mệnh tăng đạo cô bần. Bởi thế Mậu thổ tháng 4, tuy Giáp Bính Quý đồng thời sử dụng, không thể không có thủy cùng phối hợp vậy. Quý thấu mà thông căn Thân Hợi nhất định quý, có một Quý tàng chi, tuy lực lượng không đủ, cũng có thể tránh được hình khắc, y thực dồi dào đầy đủ. Tài làm Thê Thiếp, hỏa thổ khô cháy, thủy không thể tồn tại, là người tu hành nghèo khổ cô đơn, cốt nhục phần đa bị hình khắc vậy. Hóa hợp thành cục mà không bị phá, phú quý không phải nhẹ. Tiếp nối đoạn văn trên. Được một Quý thấu, chi bất thông căn, hóa hợp gặp thời, cách cục không phá, phú quý không nhẹ, hóa hợp cách lấy Ấn làm dụng, mệnh hóa hỏa cần lấy Giáp mộc làm dụng. Như một tạo sau: Bính Tuất, Quý Tị, Mậu Ngọ, Đinh Tị. Hóa hỏa đắc thời, là cách đại quý. Hoặc chi thành kim cục, can xuất Quý thủy, đây là kỳ cách, đúng là thổ nhuận kim sinh, không những chủ đại phú quý, mà còn kinh luân (1) trí dũng đều đầy đủ. Canh kim cung Tỵ trường sinh, ví lý do hỏa thổ viêm táo, kim khí cực suy, không thể làm dụng, gặp Sửu hội Tỵ thành cục, thấp thổ sinh kim, Canh kim liền có thể dụng, hơn nữa được Quý thủy xuất can, gọi là thổ nhuận kim sinh, thổ kim Thương quan, thể dụng đồng cung, được Quý thủy nhuận thổ, có tác dụng trở thành phản sinh, có sự kì diệu của xoay chuyển tạo hóa, khổng phải chỉ cá nhân phú quý mà thôi đâu.

    Người dụng thủy, kim là thê thủy làm tử, con noi gương cha, vợ hiền mà có tài năng.

    Mậu thổ tháng 4, không rời Giáp Bính Quý làm dụng, người dụng Giáp Bính thì giống tháng 3 ở trên. Hỏa thổ viêm táo, thì thủy là vật không thể thiếu, cho nên lấy thủy làm dụng, con theo nghiệp cha mà vợ hiền.


    Tân Hợi, Quý Tị, Mậu Ngọ, Bính Thìn.


    Hóa hợp gặp thời. Danh tiếng hiển hách châu báu đầy nhà.


    Theo mệnh tạo này, trụ năm gặp Tân Hợi, Mậu Quý sao có thể hóa, chính là lấy Tỵ Hợi tương xung, Nhâm Giáp cung Hợi với Đinh Kỷ cung Ngọ tương hợp, gặp Thìn biến hóa mà thành lập, khi gặp các tháng đầu Hạ, là lúc hỏa khí đương vượng, trở thành hóa hợp gặp thời vậy.

    Quý Tị, Đinh Tị, Mậu Ngọ, Đinh Tị.
    Quý thủy tuy xuất ở trên Ngọ trụ năm, thiếu Giáp làm tơi thổ.
    Tú tài mà thôi.
    Theo mệnh tạo này thì Mậu Quý cách vị, lại không gặp Thìn, cho nên không hóa, Quý thủy thông căn ở Sửu, tuy có tác dụng giải hỏa, không có Giáp thì thổ không hiệu quả, cuối cùng chỉ ở bậc tú tài mà thôi.

    Kỷ Mùi, Kỷ Tị, Mậu Ngọ, Ất Mão.

    Sinh giờ Mão ngày 18 tháng 4 năm thứ 9 đời vua Hàm Phong.

    Mệnh Thái Nãi Hoàng: Chi tụ phương Nam Tị Ngọ Mùi, có Tam Kỳ Mão Tị Ngọ, tứ trụ không có một giọt nước để giải viêm nóng, Quan tinh Ất Mão, khí tiết ở hỏa, cách thành chuyên vượng, hỏa thổ nghiêng về táo khô, lại không thích hợp gặp thủy phá dụng, đó gọi là một chén nước không thể cứu được một xe củi đang cháy, chính xác là phản kích thành họa vậy, vận hành Ất Sửu Giáp, vị đến trưởng ban tôn giáo Thượng Hải, vận Tý thôi chức, vận Quý Hợi Tỷ Kiếp tranh Tài, vận Nhâm Tuất không được chết một cách an lành.


    Canh Thìn, Tân Tị, Mậu Tuất, Đinh Tị.

    Sinh giờ Tỵ ngày 1 tháng 4 năm thứ 6 đời vua Quang Tự.

    Mệnh Phương Bản Nhân: Canh Tân xuất can, trong Thìn ám tàng Quý Thủy, có ý là thổ nhuận sinh kim, đặc biệt kim không thành cục, Quý không xuất can, cụ thể mà trong phạm vi nhỏ, không thể lấy thành cách để luận vậy.

    Chú thích:
    1/ Kinh luân: tơ tằm đã được gỡ rối (ví với tài năng sắp xếp về mặt chính trị)

  14. #100
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,079
    Mậu thổ sinh vào tháng 5

    Mậu thổ sinh vào tháng 5, hỏa viêm thổ táo, trước xem Nhâm thủy, sau mới lấy Giáp mộc, Bính hỏa cần cân nhắc khi sử dụng, dụng Quý e ràng lực của nó nhỏ.

    Mậu thổ sinh vào tháng 5, không rời Nhâm Quý, hỏa viêm thổ táo, được thủy mới có sự trung hòa, sau chọn đến Giáp mộc. Có Nhâm thủy mới có thể dụng được Giáp mộc, không Nhâm thì mộc hóa thành tro, không thể dụng được vậy. Tháng 3 Thổ dày đặc, được Giáp mộc thì linh hoạt hiệu quả.

    Nhâm Giáp lưỡng thấu, gọi là Quân Thần ( vua tôi) vui mừng được gặp nhau, quyền cao mà vinh hiển, hơn nữa Tân xuất niên can, Quan cư cực phẩm ( chỉ cấp quan cao nhất). Như một mệnh tạo: Tân Mùi, Giáp Ngọ, Mậu Dần, Nhâm
    . Nhâm Giáp lưỡng thấu, Ấn vượng Sát cao, thì xuất chinh là tướng soái, nhập triều là thừa tướng, danh truyền tứ hải. Nói như vậy là Tài sinh Sát nhược làm dụng, Nhâm thủy đến tháng Tỵ Ngọ là Tuyệt địa, được kim để sinh, là nguồn của Nhâm thủy, cách cục càng tăng thêm sự đẹp đẽ đầy đủ. Như sự chính xác của mệnh tạo Tân Mùi vậy.

    Nếu chi thành hỏa cục, tuy có Quý thủy, không thể có sự cứu giúp to lớn được, một chén nước khó cứu được một xe củi đang cháy. Mệnh người phù hợp như vậy, thì hiếu học tận tụy, nhưng cuối cùng vẫn không thành danh, trung niên lại còn có bệnh chủ về mắt. Nếu được Nhâm thủy xuất can, tuy không thấy Giáp, phú quý thanh danh đều đẹp, là người đứng đầu về tri thức văn hóa, kinh luân đầy bụng ( tài năng đầy người). Nhâm tàng, song chỉ là tú tài, Thổ xuất lại là thường nhân.


    Xin trình bầy tường tận ý nghĩa về lực nhỏ bé của Quý thủy. Như mệnh tạo Tân Mùi ở trên, Dần Ngọ hội cục, nếu như có Quý thủy mà không có Nhâm thủy, giọt nước nhỏ bị sắc cho cạn. Mặc dù không thành danh, thủy chủ về mắt, sấy khô Quý thủy, cho nên chủ bệnh về mắt. Như vậy Bính hỏa với tháng 5, hỏa thổ vượng mà gặp một hai Quý thủy, cũng cùng một lý vậy. Nếu gặp thủy Nhâm chảy dài, thì không phải luận như vậy, càng có ích khí lấy kim cung Thân đắc lộc, nhất định phú quý kiêm toàn. Ấn vượng dụng Tài tổn Ấn, không nhất thiếu cần Giáp mộc gặp thổ xuất chế Nhâm. Chỉ là nhân vật bình thường.


    Lại có thể mộc hỏa trọng nặng, hoàn toàn không một giọt nước nào, cũng chỉ là hạng người tăng đạo mà cô bần.
    Kết hợp với đoạn văn tên.

    Nhưng trong đó có hai loại biến cách không thể không biết:
    Môt là: Thổ nhiều gặp kim tiết tú, đại phú quý, chi tàng một hai Quý thủy để phối hợp, những loại cách cục này phần nhiều là sinh vào tháng 6. Hai là: Mộc nhiều mà không có thủy, hỏa vượng mộc thiêu, phản trợ thổ vượng, hỏa thổ khí thế thuần chất, không phải không quý vậy, chỉ sợ Dương nhận đảo qua ( trở giáo), mà không có được cái chết an lành vậy.

    Người dụng Nhâm, kim là vợ thủy làm con.
    Dụng Giáp Bính Quý, đã nói rõ ở tháng 3 và tháng 4. Cho nên chỉ nói dụng Nhâm, Nhâm thủy chế hỏa nhuận thổ, phù hợp với yêu cầu, cho nên vợ hiền mà con noi gương cha vậy.

    Đinh Sửu, Bính Ngọ, Mậu Dần, Bính Thìn.
    Dụng Quý thủy trong Sửu Thìn, phá sự sấy khô của hỏa thổ, tàn tật mà mắt lồi, chỉ là một người bình thường mà thôi.

    Các mệnh tạo trên lấy trong sách Tạo hóa nguyên thược.


    Tân Hợi, Giáp Ngọ, Mậu Tý, Kỷ Mùi.

    Sinh giờ Mùi ngày 14 tháng 5 năm thứ 56 đời vua Càn Long.

    Mệnh Ông Văn Đoan: Dụng Nhâm thủy cung Hợi sinh Giáp mộc, Tân kim xuất can, là nguồn của thủy, chức vị đến Đại học sĩ.

    Kỷ Sửu, Canh Ngọ, Mậu Ngọ, Mậu Ngọ.
    Sinh giờ Ngọ ngày 25 tháng 5 năm thứ 9 đời vua Đạo Quang.

    Mệnh Viên Hải Quan: Mậu Quý hóa hỏa cách, Mậu Tý trên dưới tương hợp, vận hành phương Đông, chức vị đến Quan Tổng đốc.

    Kỷ Mùi, Canh Ngọ, Mậu Tuất, Nhâm Tý.
    Sinh giờ Tý ngày 29 tháng 5 năm thứ 9 đời vua Đạo Quang.

    Mệnh Trình Bích Quang: Ngọ Tuất hội cục, đắc Nhâm thủy xuất can, hơn nữa có Canh kim sinh, dụng Tài phá Ấn, tuy không thấy Thân, chính xác là nổi tiếng phú quý tuyệt trần. Chức vị đến bộ trưởng Hải quân.


    Kỷ Mão, Canh Ngọ, Mậu Dần, Bính Thìn.
    Sinh giờ Thìn ngày 5 tháng 5 năm thứ 5 đời vua Quang Tự.

    Mệnh Tưởng Tích Hầu: Ủy viên trưởng họ Tưởng là anh trai cùng cha khác mẹ vậy, Mậu thổ sinh tháng Ngọ, không thể không có thủy, Tứ trụ này có Dần Mão Thìn đầy đủ, Sát Ấn lưỡng vượng, Dương nhận Kỷ thổ xuất can, chỉ chọn Canh kim hóa Nhận sinh Tài, Tài ở trụ giờ lâm khố, được khí hồi quang phản chiếu, đại vận Ất Sửu cũng chỉ được mười năm cuối đời mà thôi. Kỷ thổ Lâm Quan đương vượng, Anh do em mà quý. Năm Mậu Tuất đời thứ 17 thời kỳ Dân Quốc, nhậm chức Giám đốc Hải quan tỉnh Chiết Giang, năm Bính Tý kết thúc nhiệm kỳ lúc 58 tuổi.


    Đinh Sửu, Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Giáp Dần.

    Sinh giờ Dần ngày 4 tháng 5 năm thứ 3 đời vua Quang Tự.

    Mệnh Trương Tiếu Lâm: Ấn vượng Sát cao, mộc hỏa tự thiêu, Tứ trụ vô Tài, Thất sát trợ Nhận và không chế Nhận, chỉ sợ rằng Dương nhận đảo qua, kết cục là cuối tháng 7 năm Canh Thìn vận Tý bị đánh lén mà mất mạng. Thọ 64 tuổi.

    Giáp Thân, Canh Ngọ, Mậu Tuất, Bính Thìn.
    Sinh giờ Thìn ngày 24 tháng 5 năm thứ 10 đời vua Quang Tự.
    Mệnh Tịch Lộc Sênh: Dụng thủy trường sinh ở cung Thân, Giáp mộc bị thương mà vô dụng, dụng Nhâm thủy phá Ấn nhuận thổ sinh kim, cho nên làm phú cách mà không quý, Thân kim ở chi năm, giàu có mà được che chở phù hộ. Khôi Cương gặp xung, vận Tuất bị ám sát mà mất mạng.


    Mậu Tuất, Mậu Ngọ, Mậu Ngọ, Mậu Ngọ.

    Sinh giờ Ngọ ngày 6 tháng 5 năm thứ 24 đời vua Quang Tự.

    Mệnh Trương Hâm Hải: Dương nhận hóa Ấn cách.

  15. Cảm ơn bởi:


 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •