Chào mừng đến với Tử Bình diệu dụng.
Trang 11 của 11 Đầu tiênĐầu tiên ... 91011
Kết quả 101 đến 107 của 107
  1. #101
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,082
    Mậu thổ sinh vào tháng 6


    Mậu thổ sinh vào tháng 6, gặp vào mùa Hạ là quá khô khát, trước xem Quý thủy, sau thì dụng Bính hỏa Giáp mộc.


    Mậu thổ sinh vào tháng 6, trước sau nửa tháng không giống nhau, trước tiết Đại thử thì luận giống tháng 5, nhất định phải dụng Nhâm Quý, sau tiết Đại thử, kim thủy tiến khí, tam phục ( mùa nóng ) sinh hàn, nếu nguyên cục gặp kim thủy nhiều, thích hợp với dụng Bính hỏa. Thổ vượng nắm quyền, thì cần Giáp khai thông cày xới, nhưng mà dụng Giáp mộc, không thể vô Quý, nếu không thì đối kháng với thổ mà cháy khét nứt nẻ, bản tính của mộc là tự đốt cháy, cho nên lấy Quý là lựa chọn đầu tiên, không có Quý mà có Nhâm thủy, tuy không bằng sự nhuận ướt của mưa móc ( Quý) thì cũng được cái hiệu dụng của nước sông hồ ( Nhâm) tưới tiêu đồng ruộng thì đương nhiên cũng khả dụng vậy. Được Giáp Quý Bính cùng thấu,nhất định có khoa bảng, cho dù phong thổ bất cập, cũng chủ Cống giám tú tài. Hoặc có Quý không có Bính, gặp được Giáp có thể được Tú tài, không thấy Giáp, cũng chỉ giàu có thoảng qua. Hoặc có Bính mà vô Quý, theo con đường tri thức văn hóa thì y lộc tương đối. Hoặc Quý thấu Tân xuất là một người viết đơn kiện cáo lão luyện, có thể có mưu kế ( kế hoạch, mưu đồ) theo con đường l lùng nào đó, có phú quý cũng chỉ thoảng qua mà thôi.

    Không có Quý Tân và Bính là người bình thường. Nếu lại không có Giáp, bần tiệnchớ đừng nói chuyện đến vợ con.

    Giáp Quý Bính đồng loạt cùng thấu, dụng Tài sinh Sát, mà lấy Bính hỏa để phối hợp vậy, sự phối hợp hoàn mĩ đó, là nguyên nhân của người đạt được khoa bảng vậy. Quý Giáp cùng thấu mà không có Bính, dụng Tài sinh Sát, cũng đáng đạt được quý. Nếu như không có Giáp mộc, chuyên dụng Tài tinh, chỉ có thể đạt được sự giàu có, mà không thể có được quý hiển. Quý thấu Tân xuất, thì lấy Thương quan sinh Tài làm dụng, có thể tiến thân theo một con đường khác lạ nào đó, trong phú đạt được quý. Dụng Quý thì Tân kim làm vợ, dụng Bính thì Giáp mộc làm vợ, kim thủy mộc hỏa đều không, chớ đừng hỏi đến chuyện vợ con.

    Hoặc thổ nhiều, được một Giáp xuất can, không có Canh là có phong cách làm việc hiên nghang, trung hậu mà thành thực kiên định. Háo danh háo lợi, tức là không có tiếng tăm lừng lẫy, những cũng là người hào kiệt.

    Tháng 6 thổ vượng nắm quyền, được Giáp xuất can, duy nhất thấu một Sát, không gặp Canh Tân khắc chế, nhất định là người có thành tựu, nhưng phải có Tài tinh Nhâm Quý sinh dưỡng bồi đắp mới có danh vọng tiếng tăm lừng lẫy. Nếu có Giáp mà không có Quý chỉ hư danh hư lợi mà thôi.

    Người dụng Quý thì Kim làm vợ thủy làm con, người dụng Bính thì mộc làm vợ hỏa làm con, người dụng Giáp thì thủy làm vợ mộc làm con.

    Mậu thổ sinh vào tháng 6, Quý Bính Giáp đều có thể làm dụng, hỏa nhiều dụng thổ, thồ trọng dụng Quý, thủy nhiều dụng Bính.

    Mậu Tuất, Kỷ Mùi, Mậu Thìn, Quý Sửu.

    Giá sắc cách đều hợp tình hợp lý một cách chân thật.

    Theo mệnh tạo này, Giá sắc cách cần phải dụng kim, thủy nhuận kim sinh, là mệnh phú quý, dụng thủy dụng hỏa, đều không phải thượng cách.

    Mậu Thân, Kỷ Mùi, Mậu Ngọ, Tân Dậu.

    Giá sắc cách, hỏa là Bệnh, thủy là dược, thời thanh thiếu niên đã là trùm băng cướp của thiên hạ, thiếu con.

    Theo mệnh tạo này cũng là Giá sắc cách, Tân kim kết cục, không phú cũng quý. Ba vị ở ba trụ tháng ngày giờ của mệnh tạo này cùng đủ cả, Ngọ Mùi Thân Dậu liên châu ( có liên kết như vòng ngọc quý), tinh khí đoàn kết, hợp với lãnh tụ của quần hùng, Tân kim lâm Dậu, ứng với không có người nối dõi, hầu như là nguyên nhân của Ngọ phá Dậu vậy.

    Kỷ Tị, Tân Mùi, Mậu Tý, Quý Sửu.

    Dụng Bính hỏa trong Tỵ, bởi vì hai Quý tranh hợp, háo sắc mà không nghĩ đến ( quên đi) danh tiếng của mình, song cũng chỉ giầu có mà thôi.

    Theo mênh tạo này Kim thủy khí vượng, tam phục sinh hàn, cho nên dụng Bính hỏa, Cách cục Thương quan sinh Tài, mà lấy bội Ấn làm dụng, Tài tinh theo ta, phú mà háo sắc.

    Canh Tý, Quý Mùi, Mậu Tý, Đinh Tị.

    Giả Thương quan cách, làm quan Tri châu trong Phủ bác (1), 5 con sớm thành đạt.


    Theo mệnh tạo này, cũng là Tam phục sinh hàn, Cách cục Thương quan sinh Tài dụng Ấn, Nhật Lộc quy thời, Bính hỏa lâm ở trụ giờ, cho nên nhiều con, Mậu Quý tương hợp, tất cự phú. Các ví dụ trên lấy trong sách Tạo hóa nguyên thược.

    Quý Mùi, Kỷ Mùi, Mậu Tuất, Đinh Tị.

    Sinh giờ Tỵ ngày 1 tháng 6 năm thứ 3 đời vua Đạo Quang.

    Mệnh Đinh Nhật Xương: Mệnh tạo này có Thai nguyên Canh Tuất, Nhật Lộc quy thời, dụng Thai nguyên Canh kim. Chức vị đến Tổng đốc.

    Kỷ Hợi, Tân Mùi, Mậu Dần, Ất Mão

    Sinh giờ Mão ngày 14 tháng 6 năm thứ 19 đời vua Đạo Quang.

    Mệnh Liêu Thọ Hằng: Tam phục sinh hàn, dụng Bính hỏa cung Dần hóa Quan Sát. Quan đến Thượng thư.

    Canh Tý, Quý Mùi, Mậu Dần, Nhâm Tý.

    Giờ Tý ngày 20 tháng 6 năm thứ 20 đời vua Đạo Quang.

    Mênh Diệp Trừng Trung: Kim thủy tiến khí, tam phục sinh hàn, dụng Bính hỏa cung Dần, Tài tinh Quý thủy không còn ( bỏ đi) cái tình ý với Mậu. Mặc dù là đại Phú, Mậu thổ lâm Dần, Ấn quy về đóng ở bên dưới, giàu do bản thân mình mà ra. Tý Dần kẹp Sửu củng quý, Mùi xung, Tý hợp, vô hình trung được quý nhân dìu dắt nâng đỡ.

    Mậu Tuất, Kỷ Mùi, Mậu Tuất, Bính Thìn.

    Sinh giờ Thìn ngày 16 tháng 6 năm thứ 24 đời vua Quang Tự.

    Mệnh Từ Triệu Tăng ( cháu Từ Nhạc Ngô): Giá sắc cách, chỉ tiếc không có kim thấu mà lại thấu Ấn Bính, chỉ hưởng âm phúc mà thôi, không phải là thượng cách, thời trẻ hành kim vận, cuộc sống an nhàn tự tại, vận Quý Hợi thương tổn dụng thần, năm Bính Tý tạ thế, năm 39 tuổi.

    Chú Thích: 1. Phủ bác: Thời phong kiến, lập ra Phủ bác ở các vùng biên ải hoặc một vùng nào đó có tác dụng như một hang rào bảo vệ.

  2. #102
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,082

    Mậu thổ sinh vào 3 tháng mùa thu

    Mậu thổ sinh vào tháng 7

    Mậu thổ sinh vào tháng 7, dương khí dần lui ( vào bên trong), hàn khí dần dần xuất hiện. Trước dụng Bính sau dụng Quý, thứ nữa mới đến Giáp mộc.
    Trong bốn mùa thì thổ cư ở trung ương, vô thời mà bất vượng, ký gửi vào bốn góc, lấy tháng tứ quý làm thời chuyên vượng, lấy tháng tứ mạnh là đất gửi nhờ sinh vượng. Dựa theo hỏa sinh ở Dần, lộc ở Tỵ, hỏa vượng mà hiển ra được cái dụng của thổ. Dựa theo thủy sinh ở Thân, lộc ở Hợi, thủy vượng mà làm tiêu mất đi cái dụng của thổ. Thổ là chủ của ngũ hành, giá trị của khí ( thổ) là thâu tàng ( cất giữ), cũng dùng là thu liễm ( thu lại). Cho nên Mậu thổ sinh vào tháng 7, tuy là sinh địa, không lấy vượng luận, hỏa khí suy thoái. Từ chuyên môn là Bính trước Quý sau khi chọn dụng thần. Như thổ nhiều bị bịt lấp mà ngưng chệ, càng cần Giáp mộc để khai thông, thì khí trở lại trung hòa, thì thổ hiển lên được cái dụng của mình.

    Có Bính Quý Giáp thấu là phú quý cực phẩm, Bính thấu Quý tàng, có thể đề danh nhất bảng, Nhâm thấu Bính tàng, cuối cùng trở thành nhân tài được lựa chọn, Bính Giáp lưỡng thấu, Quý thủy hội cục tàng Thìn, người có văn hóa, tri thức đứng đầu, suy xét rõ ràng thông suốt, mặc dù phong thổ bất cập, cũng không mất đi sự phú quý, uy trấn nhiều vùng. Không có Bính được Quý Giáp thấu, có độ công minh tiết tháo thanh cao, gia phú ngàn vàng, hiển đạt bằng con đường khác biệt nào đó, không có Quý Giáp là người bình thường, có Bính hỏa thì Thê tử đều toàn, vợ hiền con lối nghiệp cha, không có Quý lại không có Bính Giáp, là người vô dụng, chớ đừng hỏi chuyện vợ con.


    Xin trình bày tường tận về Mậu thổ sinh vào tháng 7, không rời khỏi lý lẽ về Bính Quý Giáp, thổ sinh vào mùa Thu khí hàn, có Bính hỏa sưởi ấm thổ mà dụng được Tài Quan, mới là quý cách. Không có Bính, mặc dù có sự phối hợp thích hợp, song cũng chỉ trong phú đạt được quý mà thôi. Chia ra làm hai tiết: Tiết đầu nói về tháng có Bính đạt được quý. Tiết sau nói không có Bính đạt được phú. Tiết cuối nói đến vợ con. Quý làm vợ, Giáp làm con. Nhưng thổ mùa Thu tiết nhược, không có Bính sưởi ấm thổ, không thể đảm nhiệm được Tài Quan. Cho nên có Bính hỏa là thê tử đều toàn, đồng thời vợ lại hiền con loi gương cha, không có Bính Quý Giáp thì chớ nói đến chuyện vợ con.

    Hoặc chi thành thủy cục, chớ lấy Khí mệnh tòng Tài luận ( bỏ mệnh theo Tài), nên lấy Giáp tiết khí thủy. Giáp thấu thì phú quý cũng chỉ thoảng qua, nhiều tài năng mà xử thế linh hoạt khéo léo. Giáp tàng, có phúc hậu rất nhiều. Dụng thần thê tử giống với ý trước.

    Thổ kí sinh ở Thân, cung Thân cũng là sinh địa của thổ, tuy khí thế hư hàn, không thể xem nhẹ lấy tòng luận, thổ thất thời không vượng, mà dụng có lúc lộ rõ ra và ẩn lấp đi, với mộc hỏa kim thủy có khác nhau vậy. Như chi thành thủy cục, dụng thần quá nhiều, cần Giáp mộc tiết khí thủy, cho nên gọi là: Dụng thần nhiều là cần tiết bớt là vậy. Xem về vợ con thì giống tháng 6. Mậu thổ dụng Quý, kim làm vợ thủy làm con, dụng Bính thì Mộc làm thê hỏa làm tử, dụng Giáp thì thủy làm vợ mộc làm con.

    Nhâm Dần, Mậu Thân, Mậu Thìn, Giáp Dần.

    Phủ viện ( Giám đốc bệnh viện)

    Theo mệnh tạo này thì có Thân Thìn hội cục thấu Nhâm, chuyên dụng Giáp mộc tiết thủy khí, mừng có Bính Quý Giáp đều toàn, là mệnh đại quý.

    Nhâm Dần, Mậu Thân, Mậu Thìn, Mậu Ngọ.

    Quan Thái Thú: Dụng Quý thủy trong Thìn, Bính trong Dần trường sinh, Giáp đắc lộc, chỉ tiếc đều tàng dưới chi, cuối cùng chỉ là Quan chi phủ.

    Tân Dậu, Bính Thân, Mậu Tí, Bính Thìn.

    Câu Trần đắc vị, dụng Bính hỏa trên trụ giờ, là mệnh Thiên sư (1)

    Theo mệnh này có Thân Tí Thìn hội thành thủy cục, Tài vượng dụng Ấn, mừng là chúng không làm trở ngại lẫn nhau, Bính hỏa can tháng hợp Tân, làm mất đi cái hiệu dụng của nó ( Bính hỏa trụ tháng), chuyên dụng Bính hỏa trên trụ giờ.

    Kỷ Dậu, Nhâm Thân, Mậu Thân, Nhâm Tí.

    Công danh giả tạo, chính xác là phú ông, bởi thế ngũ hành chỉ có 3, bởi vậy mà có một thê hai thiếp mà không có con.

    Theo tạo trên thì có Tý Thân Thìn hội cục,
    hai Nhâm thấu tử ( con), Tài vượng mà Quan Ấn đều không, chỉ giàu mà thôi. Tài nhiều cho nên nhiều Thê Thiếp, mừng được hành phương Tỷ Kiếp vận, bổ cho cái khuyết của thân nhược, bằng không phú cũng không thật.

    Canh Dần, Giáp Thân, Mậu Dần, Quý Sửu.


    Quý Giáp thấu thiên can, Bính hỏa tàng chi, chỉ tiếc Canh lại khắc Giáp, dừng lại ở Tú Tài, trước giầu sau nghèo con cái đông.


    Canh Dần, Giáp Thân, Mậu Dần, Đinh Tị.

    Nữ mệnh, thiên khắc địa xung, phu tinh khứ sạch, liên sát 7 chồng. Nguyên nhân bởi Canh nhiều mộc ít vậy.

    Theo hai mệnh bên trên, thiên can địa chi của các trụ năm tháng ngày giờ bị khắc, đều không phải là mệnh đẹp, mệnh bên trên có Quý thủy thấu can, khiến Mậu mất đi cái bản chất của mình, Tài tinh khả dụng, Quý ở trụ giờ, có tượng tiên bần hậu phú. Mệnh tạo bên dưới không những Canh nhiều khắc mộc, mà còn hỏa viêm thổ táo, có đủ tam hình, thảo nào gặp nhiều hình khắc.

    Giáp Ngọ, Nhâm Thân, Mậu Tý, Bính Thìn.

    Nhâm Bính Giáp đều thấu thiên can, địa chi lại thành thủy cục, là Quan Hàn Lâm Nội Các.
    Theo mệnh tạo này gọi là chi thành thủy cục, chớ lấy tòng Tài, dùng Giáp tiết thủy khí là chuẩn xác vậy, lấy Bính thấu can. cho nên Giáp mộc khả dụng để đạt được quý hiển. Các mệnh tạo trên trích ra từ Sách tạo hóa nguyên thược.

    Quý Dậu, Canh Thân, Mậu Ngọ, Giáp Dần.

    Giờ Dần ngày 12 tháng 7 năm thứ 12 đời vua Đồng Trị.
    Mệnh Vinh Tông Kính: Giáp Quý thấu, Bính tàng, Dần Ngọ hội cục, Thân cường Ấn vượng. Giáp mộc bị Canh kim khắc, phú mà không quý. Địa chi Ngọ Thân Dậu kẹp Mùi, là quý nhân của Giáp Mậu Canh, như vậy không thể đạt được quý hiển vậy, đúng là lấy Canh khắc Thiên quan Giáp mộc, nguyên nhân là làm tổn đi quý khí của nó ( Giáp mộc) vậy, Quý thủy bị mất đi tính chất của mình do Mậu. Cho nên là nhà Công thương nghiệp lớn, ( hoặc như mệnh họ Tốc Vinh sinh vào giờ Ngọ ngày 2 tháng 8, tứ trụ là: Quý Dậu, Tân Dậu, Mậu Dần, Mậu Ngọ không biết người nào là chính xác, và tham khảo thêm phần phần phụ lục).

    Quý Dậu, Canh Thân, Mậu Ngọ, Bính Thìn.
    Mệnh Thẩm Phổ Cầm: Bính quý cùng thấu, Thực thần vượng mà sinh Tài, chuyên dụng Bính hỏa, trong phú đạt được quý.

  3. #103
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,082
    Mậu thổ sinh vào tháng 8

    Mậu thổ sinh vào tháng 8, kim tiết thân ( nhật chủ) hàn, dựa vào Bính chiếu rọimà được sưởi ấm, mừng thủy sinh nhuận, trước dụng Bính sau thì dụng Quý,không cần phải lấy mộc khai thông.

    Tháng 8 kim thần phúc lệnh, tử vượng mẫu Suy, khí tiết lại hàn, cần dương khí của mùa thu mà hong phơi. Thổ táo không sinh, cần sự nhuận ướt của mưa móc. Cho nên trước dụng Bính sau dụng Quý để làm Dụng thần, nguyệt lệnh có kim đương vượng tiết tú khí của nó ( thổ), vì vậy không cần tái dụng Giáp mộc khai thông thổ vậy.

    Bính Quý lưỡng thấu, nhất định có khoa bảng, Bính thấu Quý tàng, phú quý chỉ thoảng qua, Quý thấu Bính tàng trong phú đạt được quý. Bính thấu mà không có Quý, không quá tú tài, Quý thấu mà không có Bính, nhưng lại là người có tài năng. Bính tàng không thấu, lại không có Quý thủy, hoặc Quý nhiều không thấu, không thấy Bính hỏa, đều là thường nhân. Không Bính không Quý, là người vô dụng.

    Tân kim tháng 8 không thấu ( Tân kim tàng trong Dậu không thấu can), lấy Tài Ấn cùng dụng làm chính, nguyệt lệnh Thương quan sinh Tài, Mậu thổ khí hàn, tất lấy bội ấn làm dụng vậy, Bính Quý khuyết một đều không phải là thượng cách.

    Hoặc Tứ trụ đều Tân, không có Bính Đinh, đó gọi là thổ kim Thương quan, thông minh thanh nhã, đường công danh thì không thuận lợi cho đường quan văn, nhưng nhất định có lợi cho đường Quan võ, gặp được Quý thủy, phú mà lại còn quý.

    Nói như vậy là không phải kim xuất can, không nên có Bính hỏa cùng thấu, đích thực là trói buộc tổn thương Dụng thần. Nhưng đồng thời không phải vì không có hỏa là quý, Bính Đinh nên tàng ở trong địa chi, sưởi ấm thổ trợ giúp thổ mà không thương hại Dụng thần, đó mới là thượng cách, hơn nữa được Quý thủy xuất can, không làm hại Bính Đinh trong địa chi, phú mà lại còn quý.

    Hoặc chi thành thủy cục, Nhâm Quý xuất can, là Tài nhiều mà Thân nhược, mất gia đình ( nhà cửa) mà còn chết đói, phú ốc bần nhân, ngu muội nhu nhược mà bất tài, cả cuộc đời thô tục bủn xỉn. Nếu thiên can có Tỷ Kiếp phân tán Tài thần, có y lộc tương đối.

    \Nói như thế là Tài nhiều dụng Tỷ vậy. Giữu mùa Thu kim vượng tiết khí, chỉ có bản thân thổ hư nhược, gặp chi thành thủy cục, Nhâm Quý xuất can, kim khí tận tiết cho thủy, là Tài nhiều thân nhược, chết đói trong lầu son, là kẻ phú thất bần nhân, ý nói là: Chỉ có thể là quản lý tài chính cho người khác. Nếu như bản thân có Tài, mà không thể gánh vác được, ngược lại vì Tài mà khốn đốn, vậy chỉ là kẻ ngu muội thô tục bủn xỉn. Tiết khí thái quá, tính tình bất thường, gặp Tỷ Kiếp phân tán bớt Tài, trái lại là phú cách, chỉ có điều không có vận trình trợ giúp thì không thể được.

    Thổ mùa Thu sinh kim cho nên cực nhược, rất cần Bính hỏa Đinh hỏa xuất can mới diệu kì, hoặc Tân nhiều vô chế, là cách thanh quý của đời người, lý này cực nghiệm, Dụng thần vợ con giống ở phía trước.

    Tổng kết đoạn văn trên, giữa mùa Thu kim vượng tiết khí thổ, Mậu thổ cực nhược, không có Bính xuất can sưởi ấm thổ, thổ không có sự sống. Nhưng Dụng thần là Thương thì không thể bị đoạt, Tân kim xuất can thì không nên có Bính Đinh cùng thấu, khí hậu giữa mùa Thu, còn chưa đến cực hàn, có hỏa tàng chi làm ấm thổ mà không chế kim, thì cũng thành cách thanh quý, Dụng thần thê tử giống ở phía trước, gọi là giống tháng 6 vậy.

    Mậu Tý, Tân Dậu, Mậu Tý, Nhâm Tý.
    Thiên tài cách.
    Theo mệnh tạo này Tài nhiều thân nhược, không Dụng Tỷ Kiên Mậu thổ phân chia bảo vệ Tài thần thì không thể được. Giả như không phải vận Bính Dần Đinh Mão, khó đạt được sự hiển đạt, duy chỉ thế cục thanh,địa vị quyền chức tự có mà thôi.

    Mậu Tý, Tân Dậu, Mậu Thân, Tân Dậu.
    Hai can không tạp. Quan Tổng Binh. Theo mệnh tạo này Mậu thổ lâm Thân, tuy trường sinh không vượng, Tân nhiều mà không khắc chế, hơn nữa lại gặp Quý thủy, chính là nói hợp với thổ kim Thương quan gặp Quý. Nhưng mà phát đạt ư, cũng phải đợi đến vận Bính Đinh trợ giúp vây. Các ví dụ trên trích từ sách Tạo hóa nguyên thược.

    Đinh Hợi, Kỷ Dậu, Mậu Tý, Đinh Tị.
    Sinh giờ Tỵ ngày 4 tháng 8 năm thứ 13 đời vua Quang Tự.
    Mệnh Dương Dục Tú: Thương quan sinh Tài, kì diệu ở Nhật Lộc quy thời, Ấn Kiếp cùng thấu, Thân vượng đảm nhiệm được Tài, mà Tài quy tọa ở bên dưới, với nhật chủ trên dưới tương hợp, tình ý của Tài chuyên thuộc, không thể phân đoạt, phú quý kiêm toàn, phú trọng mà trong quý.

    Mậu Tuất, Tân Dậu, Mậu Tuất, Bính Thìn.
    Sinh giờ Thìn ngày 17 tháng 8 năm thứ 24 đời vua Quang Tự.
    Mệnh Chu Bác Tuyền: Thổ kim Thương quan cách, Bính hỏa thấu can, hợp trói Thương quan, Thìn làm Tài khố, Tài tinh quy về khố, nhất phú cách, có 5 con trai và 8 con gái.

  4. #104
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,082
    Mậu thổ sinh tháng 9

    Tháng 9 Mậu thổ đương quyền, chọn quý thủy là rất kì diệu, không cần phải dụng Bính, lại kị Mậu với Quý hợp, trước là xem Giáp mộc, sau mới lấy Quy thủy, lại lấy Bính hỏa phối hợp với chi can ( can chi), mới trở thành thổ có được sự sinh vậy, phù hợp với lý này nhất định sẽ phát trong vận trình vậy, và nhất định sẽ có khoa bảng.

    Mậu thổ sinh tháng 9, cũng không rời Giáp Quý Bính làm dụng, khi thổ vượng nắm lệnh. Không nhất thiết phải dụng Bính hỏa, trước dụng Giáp sau dụng Quý là lấy Tài sinh Sát nhược làm dụng vậy, kị Quý hợp với Mậu, chính là Tài không xuất sinh Sát, Nhật nguyên luyến Tài mà không hướng về Sát vậy, Bính hỏa làm phối hợp, hỏa ấm thổ nhuận, mới trở thành thổ có được sự sinh vậy, hợp với lý này đương nhiên trở thành quý cách.

    Hoặc không có Bính mà có Quý, không thấy Giáp mộc xuất can, có y Lộc mà giàu có nhỏ, có Giáp mà không có Quý Bính, có ý lộc mà lại là người tài năng, có Bính Quý mà không có Giáp thì bần hàn. Quý Giáp đều không, tuy có Bính hỏa, cũng y lộc nhưng cuộc sống vô nghĩa, không phải nhà sư thì cũng là đạo sĩ, cả cuộc đời cũng chỉ có cuộc sống dựa vào người khác.

    Không có Bính Giáp mà có Quý, chuyên lấy Tài tinh làm dụng, Mậu Quý tương hợp, Tài đến với ta, cho nên nói có y lộc nhưng tiểu phú. Có Giáp mà không có Quý Bính, Sát cô độc mà không có hỗ trợ, danh lợi đều hư, y lộc không thiếu mà thôi. Có Bính Quý mà vô Giáp, Tài Ấn giao sai ( đan chéo chênh lệch), Mậu thổ được hỏa mà khô táo, có thêm một giọt nước cũng không đủ để cứu, là mệnh bần hàn. Nếu như không có Quý Giáp mà có Bính hỏa, thì thổ không có sức sống, Tài Quan đều khuyết, nhất định không có con nối dõi. Vượng khí đến thân mà dừng, cho nên nói không phải nhà sư thì cũng là đạo sĩ, chỉ có thể có cuộc sống dự vào người khác vậy.

    Hoặc chi thành thủy cục, Nhâm Quý thấu can, dụng Mậu thổ ngăn cản dòng chảy của thủy, có Tỷ thấu ngược lại chủ giàu có.

    Mậu thổ sinh vào tháng 9, nhật nguyên nắm lệnh mà vượng. Cho nên Tài vượng thành cục, Nhâm thủy thấu can, nhất định là phú cách, Tài thái vượng thích hợp với Tỷ Kiếp trợ giúp, Tài vượng dụng Kiếp là chính xác vậy.

    Chi thành hỏa cục, gọi là thổ táo thì không phát, được kim thủy cùng thấu, người này sẽ thanh cao, có thể có phú quý sơ qua. Không có thủy cuộc đời khốn khổ, thê tử giống như ở trước.

    Chi thành hỏa cục, là hỏa viêm thổ táo, giống với đoạn văn trên Quý Giáp hoàn toàn không có mà có Bính hỏa, là mệnh tăng đạo nghèo khổ. Nếu như không có Quý Giáp mà gặp kim thủy, lấy thủy chế hỏa nhuận thổ, lấy kim tiết sự cố chấp ( ngoan cố) của thổ, thổ kim Thương quan, tính tất thanh cao. Thương quan sinh Tài, cũng có thể có phú quý. Cho nên điều trọng yếu là nằm ở thủy, có tác dụng là nhuận thổ chế hỏa. Không có việc cứu tế, nguyên do là không có thủy thì cuộc đời khốn khổ. Một lần nữa trở lại vấn đề chi thành hỏa cục, hoặc toàn là phương Nam, tức ( Mậu thổ) ở tháng 4 tháng 5, vẫn còn có thể thành cách tòng vượng. Đặc biệt là Dương nhận làm thương tổn thân, sau đó thì không thể được tốt lành. Nếu như tháng 9 không thấy năng lực của nó ( hỏa) phát ra, đó là lý do tháng Tuất hỏa khí nhập khố, ánh chói sáng không đủ, không có kim thủy hoặc thủy mộc tương trợ, không thể thành cách vậy. Vợ con đều xem giống tháng 6.

    Kỷ Dậu, Giáp Tuất, Mậu Thìn, Bính Thìn.

    Bính Giáp xuất can, hai Thìn tàng Quý, ghi danh hai bảng ( ý chỉ con người thi cử rất đỗ đạt).

    Theo mệnh tạo này có Giáp Ất nhất hợp, trói buộc dụng thần là bệnh, nếu không thì địa vị năm giữ không chỉ dừng ở đây.

    Đinh Hợi, Canh Tuất, Mậu Tuất, Quý Sửu.
    Cống sĩ đại quý.


    Theo mệnh tạo này thì chọn Quý thủy, Thương quan sinh Tài, phú cách.


    Đinh Dậu, Canh Tuất, Mậu Dần, Ất Mão.
    Tay trắng mà làm rạng danh gia đình, đại phú.


    Theo mệnh tạo này Ất mộc Quan tinh, không có Tài để trợ giúp ( Quan tinh), lại thấy Canh kim xuất can, Quan tinh bị thương, mừng có Đinh hỏa chế Canh để cứu, hành vận phương Nam, không có Tài sinh Quan, phú mà không quý vậy.
    Bính Tuất, Mậu Tuất, Mậu Dần, Nhâm Tý.

    Bính Quý Giáp đều toàn, chỉ tiếc Mùi ( Mậu) xuất can, chỉ là một Cống sinh.



    Theo mệnh tạo này cũng là phú cách, Dần Tuất hội hợp, Sát Ấn tương sinh, chuyên dụng Tài tinh, không lấy Tài sinh Sát nhược luận, chỉ tiếc Tỷ Kiên xuất can tranh Tài, nếu được vận trợ giúp là đẹp.


    Bính Tý, Mậu Tuất, Mậu Thìn, Kỷ Mùi.


    Cách mãnh hổ tuần sơn, Làm quan đến Thiếu Bảo (chức quan thuộc hàng tam cô thời xưa bao gồm: thiếu sư, thiếu phó; thiếu bảo).


    Theo tứ trụ này là Giá sắc cách, chính là biến cục vậy, sinh ở tháng 9, được hỏa là quý, Tý Thìn diêu hợp ( hợp xa), Mậu thổ không táo, Tý có Bính hỏa, thủy hỏa vừa có cứu giúp, thỏa nào đại quý, phúc trạch dày. Nếu như cách Mãnh hổ tuần sơn, thì chính xác phải là năm Bính Dần, không phải năm Bính Ty vậy.


    Canh Dần, Bính Tuất, Mậu Tý, Quý Sửu.


    Quan Thị lang.


    Theo mệnh tạo này có thổ trọng mà thiếu Giáp, Tỷ Kiếp tranh Tài, nên người này cô khổ. Những ví dụ trên lấy trong sách Tạo hóa Nguyên thược.


    Quý Mùi, Nhâm Tuất, Mậu Tuất, Ất Mão.


    Sinh giờ Mão ngày 3 tháng 10 năm thứ 3 đời vua Đạo Quang.


    Mệnh Nghê Văn Úy: Cho là giờ Dần, xuất thân tiến sĩ, chức vị đến tuần phủ. Nếu như giờ Ất Mão, sẽ không có địa vị này vậy.



    Canh Tý, Bính Tuất, Mậu Thân, Nhâm Tý.


    Sinh giờ Tý ngày 21 tháng 9 năm thứ 20 đời vua Đạo Quang.


    Mệnh Dịch Nhượng (hoàng thân trong sáng): Cha của hoàng đế Quang Tự. Tuy cha lấy con làm quý, sở dĩ là ngưởi hưởng thụ những vẫn là phúc của Bính hỏa che chở phù hộ. Năm Tân Mão đời vua Quang Tự thì tạ thế, năm 51 tuổi.


    Giáp Thìn, Giáp Tuất, Mậu Tý, Giáp Dần.


    Giờ Thìn ngày 24 tháng 9 năm thứ 24 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Thịnh Tuyên Hoài: Giáp thấu Quý tàng, Bính hỏa tàng Dần làm phối hợp. Chức vị đến Thượng thư Bộ bưu phó ( tương đương như Bưu Điện ngày này), Tài quy tọa ở dưới, đại phú.


    Canh Thìn, Bính Tuất, Mậu Tuất, Tân Dậu.


    Sinh giờ Dậu ngày 3 tháng 10 năm thứ 6 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Hạ Siêu: Thổ kim Thương quan bội Ấn, trưởng phòng
    Cảnh Sát, vận Tân Mão, trở giáo ( phản bội) mà bị giết.

    Quý Mùi, Nhâm Tuất, Mậu Tý, Giáp Dần.


    Sinh giờ Dần ngày 11 tháng 9 năm thứ 9 đời vua Quang Tự.

    Mệnh Nhạc Duy Tuấn: Quý Giáp xuất can, Bính hỏa tàng Dần làm phối hợp, là mệnh đại phú đại quý, chức vị đến chủ nhiệm phòng Bình Định.

    Kỷ Hợi, Giáp Tuất, Mậu Dần, Bính Thìn.


    Sinh giờ Thìn ngày 4 tháng 10 năm thứ 25 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Tạ Dung: Giáp thấu Quý tàng chi, hơn nữa có Bính hỏa cung Dần làm phối hợp, chỉ tiếc Giáp Kỉ nhất hợp, lực khai thông thổ bị trói buộc, mệnh phú quý không lớn.


    Chú thích:

    1. Thiên Sư: Thiên sư là tôn xưng mà hoàng đế Hiên Viên ( vua diệt giặc Xi Vưu) gọi một cách tôn kính đối với sư phụ Kì Bá thủy tổ của đạo giáo. Đời sau người có đạo đều gọi là Thiên sư. Như thời Đông Hán có Cát Huyền Thiên Sư, Đời Đông Tấn có Hứa Tốn Thiên sư, thời Bắc Ngụy có Khấu Khiêm Thiên sư, Đời Đường có Đỗ Quang Đường, đời Tống có Tát Thủ Khiêm.... những người này đều thuộc hạng cao đạo đại đức.

  5. Cảm ơn bởi:


  6. #105
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,082

    Mậu thổ sinh vào 3 tháng mùađông

    Mậu thổ sinh vào tháng 10.


    Mậu thổ sinh vào tháng 10, đương dịp tiểu Dương, Dương khí phát ra rất ít, trước dùng Giáp mộc, sau lấy Bính hỏa, không có Giáp thì thổ không linh hoạt ( tơi xốp), không có Bính thì thổ không ấm áp, như vậy thì lẽ nào ( Thổ) có thể sản sinh ra vạn vật được.
    Mậu thổ vừa dày vừa nặng, không dùng Gáp mộc khai thông phân tán, thì thổ không tơi xốp. Đông lệnh ( thời tiết mùa Đông) thâu tàng, không dùng Bính hỏa hâm nóng, thì Thổ không được sưởi ấm, Mậu thổ tháng 10, chuyên dụng Giáp Bính mà không sinh Quý, bởi do Nhâm thủy cung Hợi đắc lộc vậy.
    Giáp Bính cùng xuất, nhất định có khoa bảng, hoặc Giáp tọa Trường Sinh, thủy cư đất Lộc, hơn nữa một Bính cao thấu, cũng nhất định có chức vụ mà được rạng danh, chi gặp Canh nhiều, không quá Tú tài, Canh nhiều thì phá Giáp, là người bình thường.

    Hàn thổ tháng 10 lấy Bính hỏa làm trọng yếu, thổ nhiều mà được sưởi ấm, thì mới dụng đến Giáp mộc. Nguyệt lệnh là Tài tinh cung Hợi nắm lệnh, tự có thể sinh Quan. Nếu như Giáp mốc không xuất can, chuyên dụng Bính hỏa, cũng là quý cách vậy. Chi gặp Canh nhiều là Thân kim vậy, không thương tổn Quan tinh, không mất y khâm ( những người đỗ tú tài). Mệnh có Thương quan tinh là người bình thường.

    Tứ trụ không có Canh, cần phải có Giáp mộc tàng trong cung Hợi, nhưng có Bính hỏa cao thấu, cũng chủ khoa Giáp, hoặc có Canh kim, lại có Đinh hỏa phá, thì chủ quyền vị đều thông suốt, là người viết đơn ( đao bút) một cách rất đặc biệt.


    Tiếp nối đoạn văn trên, mà nói Canh nhiều phá Giáp, Tứ trụ vô Canh chế Giáp, thì nhất định có khoa giáp, có Canh tức là không hiển đạt, hoặc có Canh mà lại có Đinh chế, cũng chủ có công danh theo một con đường khác biệt nào đó.


    Hoặc không gặp Canh Đinh, tuy Giáp Bính đều tàng dưới chi, Dụng thần thanh trong nhất, cũng chủ phú quý. Hai can Bính Giáp gặp cản trở, là hạ cách, không có Bính tăng đạo cô bần.


    Tiếp nối đoạn văn trên, Mậu thổ tháng 10, lấy Giáp Bính làm Dụng thần chủ yếu, lấy Đinh chế Canh, không có Canh Đinh cũng không sử dụng được, chuyên chọn Bính
    Giáp, dù cho Bính Giáp đều tàng, cũng không mất đi sự phú quý. Hai can Bính Giáp gặp trở ngại, có Nhâm cản trở Bính, có Canh cản trở Giáp, chính là Canh nhiều phá Giáp giống ở đoạn trên vậy, là người bình thương. Có Nhâm gây cản trở Bính, Dụng thần tuy bị thương, nhưng vẫn có tác dụng với Bính hỏa. Nếu như không có Bính càng là hạ cách.

    Nhâm thấu được Mậu cứu Bính,chủ trong phú đạt được quý.


    Tiếp theo đoạn văn trên Nhâm xuất gây cản trở Bính mà nói, Canh xuất gây cản trở Giáp cần phải có Đinh hỏa xuất can để cứu. Nhâm xuất gây cản trở Bính cần có Mậu thổ xuất can để cứu. Nhâm làm Thiên Tài, chủ trong phú đạt được Quý.


    Nhâm Thân, Tân Hợi, Mậu Dần, Canh Thân.


    Gọi là hợp Lộc cách, chức vị đến Phủ doãn, bởi dưới 4 chi đều là sinh địa, cho nên vận gặp Đông Nam, đại quý.


    Theo Hỉ kỵ thiên nói: giờ Canh Thân gặp Ngày Mậu, gọi là phương của Thực thần vượng, năm tháng phạm Giáp Bính Mão Dần, đây chính là gặp mà lại không gặp.
    Cho nên ngày Mậu gặp giờ Canh Thân, gọi là chuyên ( chỉ) Thực hợp lộc cách, lấy Thân hợp Tỵ là lộc của Mậu, Dần hình Tị, Hợi xung Tị, hư thần của toàn cục tập trung vào Tỵ Lộc, Mậu thổ không vượng, vận đến phương Đông Nam, hỏa thổ đắc địa mà phát vậy.

    Nhâm Thân, Tân Hợi, Mậu Thìn, Ất Mão.


    Trung hậu, có con nhưng con không tồn tại, lý do là bởi Ất Mão phá bại vậy.


    Theo mệnh tạo này Ất Mão mộc không có tác dụng khai thông thổ, cho nên chủ trung hậu, Quan tinh là con, Tân kim khắc, Mậu sinh ở Dần
    , đến Mão là nơi Mộc dục phá bại, cho nên có con mà không thể sinh tồn vậy.

    Kỷ Hợi, Ất Hợi, Mậu Tý, Nhâm Tuất.


    Thiên tài cách, vận hành đất hỏa mới phát.


    Theo mệnh tạo này, Nhâm thủy xuất can, Thiên Tài thái vượng, Mậu thổ chỉ trông cậy vào sự thông căn ở cung Tuất chi giờ, giờ là chỉ giai đoạn cuối của mệnh cục, cho nên vận cuối mới đẹp vậy. Hỏa địa là đất Mậu thổ sinh vượng, sau trung niên, vận hành phương Nam, Ấn Tỷ bang thân, phân tán Tài thần, thảo nào phát đạt, nhưng giầu mà không quý, người giầu có thì tự có địa vị tương đương thôi.


    Kỷ Dậu, Ất Hợi, Mậu Tuất, Bính Thìn


    Ghi danh hai bảng.


    Ất Mão, Đinh Hợi, Mậu Tuất, Bính Thìn


    Ghi danh hai bảng.


    Theo hai mệnh tạo trên, Giáp tàng Bính thâu, gọi là Giáp tọa trường sinh, Nhâm cư Sát địa, một Bính cao thấu, tất nhiên được chức vụ mà rạng danh là vậy.


    Quý Mão, Quý Hợi, Mậu Thìn, Mậu Ngọ.
    Dương nhận giá Sát cách, Quan Phủ doãn.


    Theo mệnh tạo này Giáp tàng không có Bính, may mà có Dương nhận ở trụ giờ, hai Mậu hai Quý ám hợp, thảo nào là bậc tôn quý của Quận hầu ( tương đương với quan Thái thú). Các ví dụ trên lấy trong Sách tạo hóa nguyên thược.


    Đinh Mão, Tân Hợi, Mậu Ngọ, Nhâm Tuất.

    Sinh giờ Tuất ngày 9 tháng 11 năm thứ 6 đời vua Đồng Trị.
    Mệnh Vương Nhất Đình: Nhâm thủy cung Hợi đắc lộc, Tài thông môn hộ ( nguyệt lệnh là môn hộ), lại có Tân kim tương sinh, nhật nguyên Mậu thổ, chi lâm Ngọ Tuất hội cục, Thân vượng đảm nhiệm được Tài, sớm niên đã hành vận phương Tây, lấy thân phát Tài. Sau trung niên, nhất phái Ấn vận phương Nam, theo công việc từ thiện, cử chỉ đẹp đẽ có tiếng vang trong xã hội, đến tháng 11 năm Dần vận Giáp thì qua đời, hưởng thọ 72 tuổi.
    Nhâm Thân, Tân Hợi, Mậu Thìn, Giáp Dần.
    Sinh giờ Dần ngày 17 tháng 10 năm thứ 11 đời vua Đồng Trị.
    Mệnh: Tôn Hồng Y, Bính hỏa tàng Dần, Nhâm thủy không khắc, chỉ tiếc Dần Thân xung xa, vinh hoa không dài mà thôi.
    Quý Dậu, Quý Hợi, Mậu Tý, Đinh Tị.
    Sinh giờ Tỵ ngày 13 tháng 10 năm thứ 12 đời vua Đồng Trị
    Vương Tuấn San: Nhật lộc quy thời cách, chuyên dụng Tị Bính Mậu, vận đến đất Tỷ Kiếp phương Nam, phát tài rất to lớn, là trưởng phòng buôn bán muối, đó là phú mà không quý vậy, bởi vì Bính hỏa không thấu, Dậu kim tổn Giáp vậy.
    Giáp Tuất, Ất Hợi, Mậu Tý, Quý Hợi.
    Giờ Hợi ngày 19 tháng 10 năm thứ 13 đời vua Đồng Trị.
    Mệnh Thang Hóa Long: Chi tụ Tuất Hợi Tý thuộc hai cung Càn Khảm Tây và Bắc, Tài vượng sinh Quan, chuyên dụng Thai nguyên Bính hỏa, chức vị đến bộ trưởng.

  7. Cảm ơn bởi:

    ito

  8. #106
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,082
    Tổng luận Mậu thổ sinh tháng 11, tháng 12

    Tháng 11, tháng 12 cực lạnh mà đóng băng, lấy Bính hỏa làm trọng yếu, Giáp mộc làm phò tá.



    Tháng 11, tháng 12 vì cực lạnh mà thổ đóng băng, điều hầu là cấp bách, nhất định dụng Bính hỏa làm trước tiên, lấy Giáp mộc làm phò tá, không có Giáp mộc còn có thể được, nhưng tuyệt đối không thể thiếu Bính hỏa, Bính Giáp cùng thấu, Thi hương có thể trông mong, hai Bính một Giáp ( thấu), khoa giáp có thể mong đợi, Bính xuất Giáp tàng, không dừng ở tú tài, Bính tàng Giáp xuất, không quá sinh đồ và tiền đồ chỉ là người giúp việc lặt vặt. Có Bính mà vô Giáp là người bình thường ở trong nhà giàu có, có Giáp mà vô Bính thì nghèo khổ mà buồn chán, Bính Giáp đều không là cách hạ tiện.


    Ngày đông giá rét lý điều hầu là cấp thiết. Cho nên tổng luận nói: Hỏa trùng trùng mà không ngại, lại nói Hỏa thịnh có vinh, thủy nhiều không có bất hạnh gì, có hỏa mới có thể đảm nhiệm mà dụng Tài Quan. Không có hỏa, Thực Thương Quan Sát Tài tinh đều không thể dụng. Cho nên nói: Thổ mùa đông lấy hỏa làm Dụng thần chủ yếu vậy, hoặc một bầy Bính hỏa, vận gặp lúc nhị Dương, lại thêm Bính thấu, trong nhược mà biến cường, được một Nhâm thủy thấu can, thanh cao mà giầu có, mà còn trong phú đạt được quý, không có Nhâm thủy thì là tăng đạo cô độc.

    Vận gặp nhị Dương là tháng 12 vậy, hỏa thái vượng, Mậu thổ biến nhược trở thành cường, chọn Nhâm thủy làm dụng, thủy là Tài, cho nên chủ trong phú đạt được quý.

    Hoặc thổ thủy hàn lạnh mà còn ngưng trệ, một Bính cũng không thấy, được một chữ Tỵ, cũng là người không mất đi nghĩa khí khi giao du với mọi người.


    Thổ thủy hàn lạnh mà còn ngưng trệ tức là sinh vào tháng 12 vậy, cung Tị ám tàng Bính hỏa, Mậu thổ lại đắc Lộc, trong cách có như vậy thì nghĩa khí tự hào, vận trình dẫn xuất ( Bính), cũng có thể phú quý, như loại cách Sửu dao Tý, tuy không thấy rõ chữ Tỵ,
    cũng có thể lấy hư thần ám yêu ( mời, gặp) làm dụng vậy.

    Hoặc nhất phái Nhâm thủy, không gặp Tỷ Kiếp, lấy tòng Tài luận, danh lợi do người khác mà được.


    Đây là nói tòng Tài cách, chi thành cục Thân Tý Thìn, hoặc phương Hợi Tý Sửu, mà không có Tỉ Kiếp Ấn thụ, thì lấy tòng Tài luận, do người khác mà đạt được phú quý.


    Nếu có nhiều Tỉ Kiếp, gặp Giáp xuất can thì đại phú. Nhưng thổ hàn thủy lạnh, có Giáp mà không có Bính Đinh, cũng chỉ là người trông ngoài thì đầy đủ nhưng trong chẳng có gì. Như tạo: Mậu Dần, Giáp Tý, Mậu Thìn, Mậu Ngọ. Được Giáp Bính làm dụng, nhưng Mậu nhiều hối hỏa, không thể thành danh, gian trá mà bủn xỉn, thỏa thuê mà ấm áp, thường ngấm ngầm gây chọc người khác làm cho người khác không vừa ý.


    Đây là nói quần Kiếp tranh Tài, dụng Thiên quan chế Kiếp hộ Tài. Mậu thổ tháng 12, Tài vượng nắm lệnh, gặp Tỷ Kiếp nhiều, được Giáp mộc xuất can chế Kiếp, Tài thông môn hộ, thành cách cự phú, nhưng cũng không thể không có Bính Đinh noãn (sưởi ấm) thổ, bằng không cuối cùng là người ngoài thì trông đầy đủ mà trong thì rỗng tuếch. Như tạo Mậu Dần, Tý Dần kẹp quý, Thìn Ngọ kẹp lộc, thiên can 4 chữ, đều đắc Lộc đắc quý, mà không thể thành danh, vì Bính không xuất can, lại không có chữ Tỵ là lý do vậy, Tài tinh nắm lệnh, mà Mậu thổ hợp (Tài tinh) rất chặt, quy khố với tọa ở dưới, tuy có Tài mà thô tục bủn xỉn.


    Hoặc có hai Quý thấu ở trụ tháng và trụ giờ, gọi là tranh hợp, tuy có tiền của dư thừa, thì cũng là người vất vả, được Bính Kỷ xuất can, chế quý là người trung nghĩa, vì người khác mà bỏ qua lợi ích của mình.


    Mậu lấy Quý làm Tài, thổ mùa Đông mà không có Bính, cuối cùng thuộc hư hàn, Thân nhược dụng Tài. Tuy được vận Ấn Kiếp phù trợ, cuối cùng là người vất vả cần cù mà đạt được giầu có, cuộc đời gian khổ, được Kỷ thổ xuất can làm trợ giúp, Kỷ Quý đồng cung làm dụng, thành cách cục khác, thấy ở đoạn dưới. Trụ năm trụ tháng có Tân kim lại thuộc thổ kim Thương quan, có thể bằng lòng vời công danh theo một con đường khác biệt nào đó, lấy kim làm vợ, thủy làm con.


    Tiếp nối câu của đoạn văn trên, Kỷ thổ xuất can chế Quý, Kỷ Quý Tân đều là thần của nguyệt lệnh cung Sửu, gặp Kỷ Quý Tân xuất can, là cách thổ kim Thương quan sinh Tài, đồng cung tụ khí, cho nên có thể có kế hoạch cho con đường công danh theo một cách khác biệt nào đó. Cách này lấy thủy làm dụng, cho nên lấy Thương quan làm vợ, Tài làm con. Thổ mùa Đông lấy dụng Bính hỏa làm chính, Bính hỏa làm dụng, thì mộc làm vợ, hỏa làm con, như trên tháng 6.

  9. Cảm ơn bởi:


  10. #107
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,082
    Những ví dụ về Thổ sinh tháng 11

    Kỷ Hợi, Bính Tý, Mậu Tuất, Canh Thân.


    Chuyên dụng Bính hỏa, được tấn phong làm Quan Thị lang.


    Mệnh này dựa vào chuyên Thực hợp lộc cách, chuyên dụng Bính hỏa, vận đến Đông Nam có thể phát
    ( đã nói rõ về mệnh tạo Nhâm Thân ở tháng 10).

    Nhâm Tý, Nhâm Tý, Mậu Tý, Nhâm Tý.


    Tòng Tài cách, Hàn lâm học sĩ.


    Theo tứ trụ này thì một điểm Tỷ Ấn cũng không có, tòng Tài cách mà không có trở ngại.

    Mệnh tạo của công tước anh hùng Trương Văn Đoan thành Tiền Thanh Đồng: Sinh vào giờ Tý ngày 17 tháng 11 năm thứ 11 đời vua Khang Hi, tám chữ đều giống nhau, xuất thân Hàn Lâm, cha con đều là Tể tướng, ( khi mất) được hưởng cúng trong Thái Miếu ( Thái miếu: hoàng đế được tế tổ thờ cúng ở trong miếu của tổ tiên), là đệ nhất danh thần đời nhà Thanh, với tứ trụ này không biết là nhất hay là nhị. Bở vì mệnh tạo trong sách này, được nhiều người sau này thêm vào vậy.

    Kỷ Tị, Bính Tý, Mậu Dần, Nhâm Tuất.


    Sinh giờ Tuất ngày 11 tháng 11 năm thứ 8 đời vua Đồng Trị.


    Mệnh Trương Thọ Linh: Bính thấu thông căn Dần Tỵ, Tài tinh nắm lệnh, chức vị đến Bộ trưởng tài chính.


    Canh Thìn, Mậu Tý, Mậu Tý, Canh Thân.


    Sinh giờ Thân ngày 24 tháng 11 năm thứ 6 đời vua Quang Tự.


    Mênh Triệu Hằng Dịch: Chuyên Thực hợp Lộc cách, Thương quan sinh Tài, chuyên dụng Bính Mậu cung Tỵ để thành cách, cho nên quý, chức vị đến Đô Đốc, duy chỉ hiển hách nhất thời mà thôi.


    Những ví dụ về Mậu thổ sinh vào tháng 12.


    Quý Mão, Ất Sửu, Mậu Thân, Nhâm Tý.


    Tứ trụ này là Thời thượng Thiên Tài cách, đại quý.


    Quý Mão, Ất Sửu, Mậu Thân, Quý Sửu.


    Tứ trụ không có hỏa, được Mậu Quý hóa hỏa, có Thai nguyên Bính hỏa tiếp dẫn, lại được Tân Nhâm trợ Bính, Quan đến nhị phẩm.


    Theo hai mệnh tạo này, đều dụng
    Thai Nguyên Bính hỏa, Mão Sửu kẹp Dần, Thân kim xung ( Dần), hư thần Bính hỏa có khí, nguyên mệnh Tài Quan đắc Lộc, đặc thù của mệnh cục là hàn thổ hàn mộc, không có dương hòa Bính hỏa, không thể hiển được cái dụng của mình, cũng biết Bính hỏa là trọng yếu vậy. Thổ mùa Đông lý là không dụng thủy mộc, không phải không khả dụng, không có Bính hỏa thì Dụng vô lưc, không đủ để giành được quý hiển vậy.

    Kỷ Mùi, Đinh Sửu, Mậu Tý, Bính Thìn.


    Tú tài, nhà giàu.


    Nhâm Ngọ, Quý Sửu, Mậu Dần, Giáp Dần.


    Nhất bảng giáo luận. ( Thày giáo, Thày đồ) có những nghiên cứu phi thường trong các nghành học)


    Theo mệnh tạo này cũng phú. Các ví dụ trên lấy trong sách Tạo hóa nguyên thược.


    Kỷ Mùi, Đinh Sửu, Mậu Tý, Kỷ Mùi.


    Giờ Mùi ngày 5 tháng 12 năm thứ 4 đời vua Gia Khánh.


    Mệnh Phí Thuần: Tý Sửu lục hợp, thổ nhuận mà loãn ( ấm áp), chân giá sắc cách vậy, Quan đến Cung bảo(1).


    Bính Tý, Tân Sửu, Mậu Tý, Quý Sửu.


    Sinh giờ Sửu ngày 14 tháng 12 năm 21 đời vua Gia Khánh.


    Mênh công thân Ngọc Lân Bành Cương Trực: Tân Quý cung Sửu đều thấu, lại thấy Bính hỏa xuất can
    , đồng cung tụ hơp mà cởi bỏ được, lại được chân thần Bính hỏa làm dụng, thảo nào là nhân vật của ngàn đời, không chỉ nhất thời hiển đạt vậy.

    Tân Dậu, Tân Sửu, Mậu Dần, Tân Dậu.


    Sinh giờ Dậu ngày 25 tháng 12 năm 11 đời vua Hàm Phong.


    Mệnh Giang Triều Tông: Thổ kim Thương quan bội Ấn, chuyên dụng Bính hỏa cung Dần, lấy vận Đinh Dậu, Bính Thân là thời kì đắc ý nhất, chức vị đến ( làm ) thay quyền Tể tướng. Chỉ tiếc là giao vận phương Nam còn quá chậm trễ mà thôi.


    Tân Tị, Tân Sửu, Mậu Thân, Nhâm Tý.


    Sinh giờ Tý ngày 20 tháng 11 năm thứ 7 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Vạn Phúc Lân: Thổ kim Thương quan bội Ấn, Bính hỏa tàng ở cung Tị, chức vị đến Đô đốc.


    Tân Tị, Tân Sửu, Mậu Thân, Giáp Dần.


    Mệnh Khương Đăng Tuyển: Thương quan gặp Quan, Bính tàng Dần Tị, tam hình gặp xung, chức vị đến quân đoàn trưởng. Không được chết già, ở năm Bính Dần vận Bính Thân.


    Ghi chú:

    1/ Cung Bảo: Các cấp quan viên đời Minh, Thanh nguyên nhân là có chức suông, cấp cao nhất vinh dự là cấp hàm Thái sư, Thiếu sư, Thái phó, Thiểu phó, Thái bảo, Thiếu bảo, Thái tử Thái sư, Thái tử Thiếu sư, Thái tử Thái phó, Thái tử Thiểu phó, Thái tử Thái bảo, Thái tử Thiếu bảo. Nguyên nhân đại thần thêm cấp hàm hoặc sau khi chết được tặng thêm chức Quan, thông thường gọi là Cung Hàm, sau đời vua Hàm Phong không dùng " Sư" nữa mà lại dùng nhiều đến " Bảo", cho nên lại có biệt danh khác là Cung Bảo. Thí dụ mẫu Hà Nam thông chí · bản thảo sưu tầm ở huyện Tuy " Miếu thờ khắc đá ở hai phố đối diện nhau hướng Đông và hướng Tây ( Viên có thể được lập Miếu thờ), bên tả viết viết: Tam thế Tư Mã , bên hữu viết: cung bảo Thượng thư. Đinh Cung Bảo ( Đinh Bảo Trinh ), Viên cung bảo ( Viên Thế Khải ).

  11. Cảm ơn bởi:


 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •