Mậu thổ sinh vào tháng 6


Mậu thổ sinh vào tháng 6, gặp vào mùa Hạ là quá khô khát, trước xem Quý thủy, sau thì dụng Bính hỏa Giáp mộc.


Mậu thổ sinh vào tháng 6, trước sau nửa tháng không giống nhau, trước tiết Đại thử thì luận giống tháng 5, nhất định phải dụng Nhâm Quý, sau tiết Đại thử, kim thủy tiến khí, tam phục ( mùa nóng ) sinh hàn, nếu nguyên cục gặp kim thủy nhiều, thích hợp với dụng Bính hỏa. Thổ vượng nắm quyền, thì cần Giáp khai thông cày xới, nhưng mà dụng Giáp mộc, không thể vô Quý, nếu không thì đối kháng với thổ mà cháy khét nứt nẻ, bản tính của mộc là tự đốt cháy, cho nên lấy Quý là lựa chọn đầu tiên, không có Quý mà có Nhâm thủy, tuy không bằng sự nhuận ướt của mưa móc ( Quý) thì cũng được cái hiệu dụng của nước sông hồ ( Nhâm) tưới tiêu đồng ruộng thì đương nhiên cũng khả dụng vậy. Được Giáp Quý Bính cùng thấu,nhất định có khoa bảng, cho dù phong thổ bất cập, cũng chủ Cống giám tú tài. Hoặc có Quý không có Bính, gặp được Giáp có thể được Tú tài, không thấy Giáp, cũng chỉ giàu có thoảng qua. Hoặc có Bính mà vô Quý, theo con đường tri thức văn hóa thì y lộc tương đối. Hoặc Quý thấu Tân xuất là một người viết đơn kiện cáo lão luyện, có thể có mưu kế ( kế hoạch, mưu đồ) theo con đường l lùng nào đó, có phú quý cũng chỉ thoảng qua mà thôi.

Không có Quý Tân và Bính là người bình thường. Nếu lại không có Giáp, bần tiệnchớ đừng nói chuyện đến vợ con.

Giáp Quý Bính đồng loạt cùng thấu, dụng Tài sinh Sát, mà lấy Bính hỏa để phối hợp vậy, sự phối hợp hoàn mĩ đó, là nguyên nhân của người đạt được khoa bảng vậy. Quý Giáp cùng thấu mà không có Bính, dụng Tài sinh Sát, cũng đáng đạt được quý. Nếu như không có Giáp mộc, chuyên dụng Tài tinh, chỉ có thể đạt được sự giàu có, mà không thể có được quý hiển. Quý thấu Tân xuất, thì lấy Thương quan sinh Tài làm dụng, có thể tiến thân theo một con đường khác lạ nào đó, trong phú đạt được quý. Dụng Quý thì Tân kim làm vợ, dụng Bính thì Giáp mộc làm vợ, kim thủy mộc hỏa đều không, chớ đừng hỏi đến chuyện vợ con.

Hoặc thổ nhiều, được một Giáp xuất can, không có Canh là có phong cách làm việc hiên nghang, trung hậu mà thành thực kiên định. Háo danh háo lợi, tức là không có tiếng tăm lừng lẫy, những cũng là người hào kiệt.

Tháng 6 thổ vượng nắm quyền, được Giáp xuất can, duy nhất thấu một Sát, không gặp Canh Tân khắc chế, nhất định là người có thành tựu, nhưng phải có Tài tinh Nhâm Quý sinh dưỡng bồi đắp mới có danh vọng tiếng tăm lừng lẫy. Nếu có Giáp mà không có Quý chỉ hư danh hư lợi mà thôi.

Người dụng Quý thì Kim làm vợ thủy làm con, người dụng Bính thì mộc làm vợ hỏa làm con, người dụng Giáp thì thủy làm vợ mộc làm con.

Mậu thổ sinh vào tháng 6, Quý Bính Giáp đều có thể làm dụng, hỏa nhiều dụng thổ, thồ trọng dụng Quý, thủy nhiều dụng Bính.

Mậu Tuất, Kỷ Mùi, Mậu Thìn, Quý Sửu.

Giá sắc cách đều hợp tình hợp lý một cách chân thật.

Theo mệnh tạo này, Giá sắc cách cần phải dụng kim, thủy nhuận kim sinh, là mệnh phú quý, dụng thủy dụng hỏa, đều không phải thượng cách.

Mậu Thân, Kỷ Mùi, Mậu Ngọ, Tân Dậu.

Giá sắc cách, hỏa là Bệnh, thủy là dược, thời thanh thiếu niên đã là trùm băng cướp của thiên hạ, thiếu con.

Theo mệnh tạo này cũng là Giá sắc cách, Tân kim kết cục, không phú cũng quý. Ba vị ở ba trụ tháng ngày giờ của mệnh tạo này cùng đủ cả, Ngọ Mùi Thân Dậu liên châu ( có liên kết như vòng ngọc quý), tinh khí đoàn kết, hợp với lãnh tụ của quần hùng, Tân kim lâm Dậu, ứng với không có người nối dõi, hầu như là nguyên nhân của Ngọ phá Dậu vậy.

Kỷ Tị, Tân Mùi, Mậu Tý, Quý Sửu.

Dụng Bính hỏa trong Tỵ, bởi vì hai Quý tranh hợp, háo sắc mà không nghĩ đến ( quên đi) danh tiếng của mình, song cũng chỉ giầu có mà thôi.

Theo mênh tạo này Kim thủy khí vượng, tam phục sinh hàn, cho nên dụng Bính hỏa, Cách cục Thương quan sinh Tài, mà lấy bội Ấn làm dụng, Tài tinh theo ta, phú mà háo sắc.

Canh Tý, Quý Mùi, Mậu Tý, Đinh Tị.

Giả Thương quan cách, làm quan Tri châu trong Phủ bác (1), 5 con sớm thành đạt.


Theo mệnh tạo này, cũng là Tam phục sinh hàn, Cách cục Thương quan sinh Tài dụng Ấn, Nhật Lộc quy thời, Bính hỏa lâm ở trụ giờ, cho nên nhiều con, Mậu Quý tương hợp, tất cự phú. Các ví dụ trên lấy trong sách Tạo hóa nguyên thược.

Quý Mùi, Kỷ Mùi, Mậu Tuất, Đinh Tị.

Sinh giờ Tỵ ngày 1 tháng 6 năm thứ 3 đời vua Đạo Quang.

Mệnh Đinh Nhật Xương: Mệnh tạo này có Thai nguyên Canh Tuất, Nhật Lộc quy thời, dụng Thai nguyên Canh kim. Chức vị đến Tổng đốc.

Kỷ Hợi, Tân Mùi, Mậu Dần, Ất Mão

Sinh giờ Mão ngày 14 tháng 6 năm thứ 19 đời vua Đạo Quang.

Mệnh Liêu Thọ Hằng: Tam phục sinh hàn, dụng Bính hỏa cung Dần hóa Quan Sát. Quan đến Thượng thư.

Canh Tý, Quý Mùi, Mậu Dần, Nhâm Tý.

Giờ Tý ngày 20 tháng 6 năm thứ 20 đời vua Đạo Quang.

Mênh Diệp Trừng Trung: Kim thủy tiến khí, tam phục sinh hàn, dụng Bính hỏa cung Dần, Tài tinh Quý thủy không còn ( bỏ đi) cái tình ý với Mậu. Mặc dù là đại Phú, Mậu thổ lâm Dần, Ấn quy về đóng ở bên dưới, giàu do bản thân mình mà ra. Tý Dần kẹp Sửu củng quý, Mùi xung, Tý hợp, vô hình trung được quý nhân dìu dắt nâng đỡ.

Mậu Tuất, Kỷ Mùi, Mậu Tuất, Bính Thìn.

Sinh giờ Thìn ngày 16 tháng 6 năm thứ 24 đời vua Quang Tự.

Mệnh Từ Triệu Tăng ( cháu Từ Nhạc Ngô): Giá sắc cách, chỉ tiếc không có kim thấu mà lại thấu Ấn Bính, chỉ hưởng âm phúc mà thôi, không phải là thượng cách, thời trẻ hành kim vận, cuộc sống an nhàn tự tại, vận Quý Hợi thương tổn dụng thần, năm Bính Tý tạ thế, năm 39 tuổi.

Chú Thích: 1. Phủ bác: Thời phong kiến, lập ra Phủ bác ở các vùng biên ải hoặc một vùng nào đó có tác dụng như một hang rào bảo vệ.