Chào mừng đến với Tử Bình diệu dụng.
Trang 9 của 11 Đầu tiênĐầu tiên ... 7891011 CuốiCuối
Kết quả 81 đến 90 của 107
  1. #81
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,082
    Bính hỏa sinh vào Tháng 6
    Tháng sáu Hỏa khí dần dần lui, tam phục sinh hàn, Kỷ thổ tiết khí, lấy Canh làm tá Nhâm làm dụng.


    Tháng sáu hỏa viêm thổ táo, trước tiết Đại thử với tháng 5 cùng suy một lý, sau tiết Đại thử, kim thủy tiến khí, tam phục sinh hàn, dụng Nhâm tất lấy Canh kim làm phò tá, nguyên nhân Kỷ thổ đương vượng vậy, mà lại là lý do vì Kỷ thổ tiết khí, Bính hỏa không vượng, tuy dụng Canh Nhâm, vận hỉ đất Đông Nam sinh vượng, không lợi phương Tây, nếu nguyên cục sinh vượng, lại cần luận theo cách khác.



    Canh Nhâm lưỡng thấu, sát ( gần) thân tương sinh, có thể nói rằng khoa bảng mà làm Quan lại vinh hiển . Nếu không có Canh kề sát, có Nhâm mà không thấy Mậu thổ thấu xuất, tú tài phú nhỏ, gặp Mậu chế Nhâm, song chỉ là người có tài năng đức độ ở trong một vùng quê, một bè phái nào đó mà thôi. Hoặc Kỷ thổ xuất can hỗn trọc, cũng chỉ là kẻ phàm phu tục tử, hoặc Nhâm thủy ở chi, Kỷ thổ xuất can, thì nghèo khổ. Không có Nhâm là hạ cách, đã bần tiện mà lại còn ngu đần, nam nữ đều cùng một lý như vậy, người dụng Nhâm, Kim là thê Thủy làmtử.

    Canh Nhâm lưỡng thấu, phú quý kiêm toàn là thượng cách, có Nhâm vô Canh, Nhâm thủy vô nguồn, cho nên phú quý đều nhỏ. Nếu lại thêm Mậu thổ xuất chế, vì hoàn cảnh mà bị trói buộc, khó có thời kì phát triển, lại chỉ là người có đức tài ở thôn quê mà thôi. Nếu như Kỷ thổ không thể chế Thủy, trái lại chỉ làm Thủy bẩn đục, khiến Thủy thổ hỗn tạp, tất chỉ là loại phàm phu tục tử, không có Nhâm thì là người ngu dốt ngoan cố lại còn hạ tiện.

    Hoặc can gặp nhất phái Bính hỏa, Can Chi lưỡng gặp Canh Nhâm, dương cực sinh âm, khoa bảng đại thần.

    Kết hợp với đoạn trên. Bính hỏa sinh vào tháng 6, Kỉ thổ tiết khí, tuy lấy Canh Nhâm cùng thấu để đạt được quý, nhưng vẫn cần Ấn Tỷ để trợ giúp, thích hành vận Đông Nam. Nếu gặp một bầy Bính hỏa, dương cực sinh âm, chuyên chọn Tài Sát, vận cần Tây Bắc. Tuy cùng lấy Canh Nhâm để đạt được quý, khi dụng nó có lúc khác nhau vậy.

    Tóm lại: Bính hỏa sinh vào tháng 6 dụng Nhâm, không giống những tháng còn lại khi dụng Nhâm. Cho nên vận nhập Đông Nam, giàu có ngàn lượng, Tấy Bắc thì nghèo khổ buồn chán, những tháng khác dụng Nhâm đều hỉ hành vận Tây Bắc.

    Nói như vậy tháng 6 dụng Nhâm có điểm nào khác với các tháng còn lại, tháng 6 Tam phục sinh hàn, Kỷ thổ tiết khí, Bính hỏa đã dần suy thoái. Tuy phối hợp để giành được quý, không thể không dụng Canh Nhâm, mà vận hỉ hành đến đất Đông Nam sinh vượng. Cho nên dụng Nhâm tháng 6 có chỗ không giống với tháng khác là như vậy. Nếu như nguyên cục Ấn Tỉ nhiều, Bính hỏa sinh vượng, thì lại cần phân biệt khi luận, nhưng vẫn cần hành vận Tây Bắc vậy.

  2. Cảm ơn bởi:


  3. #82
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,082
    Nhâm Dần, Đinh Mùi, Bính Dần, Nhâm Thìn.

    Trụ gặp ba Bính, hai Nhâm xuất can, vị đến Các Lão.
    Theo mệnh tạo trên, Đinh Nhâm hợp khứ một Sát, chuyên dụng duy nhất Sát trên trụ giờ, không lấy Dương Nhân hợp Sát luận. Mệnh tạo nói trên là của họ Hạ thuộc triều đại nhà Minh vậy.

    Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Bính Ngọ, Kỷ Hợi.

    Thổ tiết hỏa thần, Hợi có Nhâm Giáp, tuổi nhỏ nghèo khổ, vận hành phương Bắc, giàu có ngàn lượng, chết ở vận Dần.
    Theo mệnh tạo trên thì Thổ tiết khí Hỏa thần, cho nên không thể giành được quý vậy, Thổ táo Hỏa viêm, mừng Nhâm thủy cung Hợi nhuận thổ, Thương quan vượng mà sinh Tài, cho nên là phú cách, đến vận Dần, Hợi Dần hợp, Thủy khí bị tiết ở Mộc, phá hỏng Thương quan, tổn đến thọ nguyên vậy. Tham khảo thêm tiết Bính hỏa tháng 5.

    Nhâm Dần, Đinh Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu.

    Sát trọng thân khinh, vận nhập Tây Bắc, làm kẻ ăn mày, Nhâm vận thì chết.
    Theo mệnh tạo này, chi không thấy Ngọ, Đinh hỏa không lấy Sát luận, Đinh hỏa hợp khử Nhâm thủy, hóa mộc trợ hỏa, quần Kiếp tranh Tài.

    Kỷ Tị, Tân Mùi, Bính Ngọ, Quý Tị.

    Không thấy Nhâm thủy, chi thành Hỏa cục, lại gặp Tân hợp, không luận là viêm thượng, chỉ là hạng nô tiện ham ăn.
    Theo Tứ trụ này Hỏa cục sắc cạn (nước) Quý thủy, vùa đúng e rằng bị tàn tật, Quý thủy dễ khô cạn, nếu là Nhâm thủy thì không dễ dàng bị khô vậy. Các ví dụ trên là lấy trong sách Tạo hóa nguyên thược.

    Giáp Thìn, Tân Mùi, Bính Tuất, Giáp Ngọ.

    Sinh giờ Ngọ ngày 15 tháng 6 năm thứ 2 đời vua Ung Chính (niên hiệu vua Thế Tông thời Thanh, Trung Quốc, 1723-1735).
    Mệnh Kỷ văn đạt công ( Kỷ Hiểu Lam ): Hỏa thổ Thương quan sinh Tài cách, nguyên mệnh Ấn vượng, Hỏa Thổ Mộc đều là thần của nguyệt lệnh, thể dụng đồng cung, Kim là khí sắp tiến, vận hành Tây Bắc, Quan đến Hiệp Biện Đại Học Sĩ, khi chết được vua ban Thụy hiệu là Văn Đạt.

    Giáp Tuất, Tân Mùi, Bính Dần, Ất Mùi.

    Sinh giờ Mùi ngày 18 tháng 6 năm thứ 19 đời vua Càn Long.
    Mệnh Phúc Khang An: Sinh vào ba ngày trước Lập thu, Kim Thủy tiến khí, nguyên mệnh hỏa thổ Thương quan, Ấn thụ thái vượng, đầu vận Quý Dậu năm Đinh Hợi, năm 14 tuổi được trao chức Thị vệ, không thể so sánh thanh danh mà bề tôi sớm đạt, mà không thể có ai có thể vượt qua được người này, liên tục được đề bạt tiến cử và được sắc phong chức Quận Vương, đến năm Bính vân Bính thì chết, thọ 43 tuổi.

    Nhâm Thân, Đinh Mùi, Bính Ngọ, Đinh Dậu.

    Sinh giờ Dậu ngày 5 tháng 6 năm thứ 17 đời vua Gia Khánh (niên hiệu của vua Nhân Tông thời nhà Thanh, Trung Quốc, 1796-1820).
    Mệnh Hồ Văn Trung Công Lâm Dực: Ngày Bính Ngọ tọa Dương nhận, thấu Đinh, Kim cung Thân đắc lộc, khởi sinh Nhâm thủy, Sát Nhận tương hợp, chính gọi là Dương nhận hợp Sát, oai phong quang vinh vang xa ngàn dặm, làm đến chức Tuần phủ tỉnh Giang Tây. Đến vận Hợi Nhâm, Sát vượng trở lại hành Sát địa, ở nơi kiến nghiệp lập công, chết dưới đao Nhận, hi sinh vì nhiệm vụ chống nạn hồng thủy.

    Đinh Sửu, Đinh Mùi, Bính Tý, Kỷ Sửu

    Sinh giờ Sửu ngày 4 tháng 6 năm thứ 22 đời vua Gia Khánh.
    Mệnh Mao Sưởng Hi: Hỏa Thổ Thương quan, xuất thân hàn lâm, Quan đến Đại học sĩ.

    Đinh Sửu, Đinh Mùi, Bính Ngọ, Kỷ Sửu.

    Sinh giờ Sửu ngày 22 tháng 6 năm thứ 3 đời vua Quang Tự.
    Mệnh Tưởng Mạnh Bình: Không có Nhâm, chuyên dụng Kỷ Thổ, phú mà không quý.

    Kỷ Mão, Tân Mùi, Bính Ngọ, Nhâm Thìn.

    Sinh giờ Thìn ngày 4 tháng 6 năm thứ 5 đời vua Quang Tự

    Hồ Tư Nghĩa: Nhâm thủy xuất lộ, chỉ tiếc không có Canh kim tương sinh, Kỷ thổ tiết khí, Tân kim tương hợp, đều là có bệnh. Tuy quý mà không lớn.

    Nhâm Ngọ, Đinh Mùi, Bính Thìn, Giáp Ngọ.

    Sinh vào giờ Ngọ ngày 2 tháng 6 năm thứ 8 đời vua Quang Tự.

    Mệnh Hác Bằng: Sát Nhận tương hợp, chỉ tiếc Canh kim tương sinh, Mậu mà không thành, thì Thủy nhược vô căn, không đủ để quý.


  4. Cảm ơn bởi:


  5. #83
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,082

    Bính Hỏa sinh vào 3 tháng mùa Thu.

    Bính Hỏa sinh vào 3 tháng mùa Thu.

    Tháng 7 mặt trời chuyển về Tây, dương khí dần suy, Mặt trời gần Tây sơn(1), gặp Thổ đều mờ tối, duy chỉ có mặt trời chiếu trên biển hồ, mới đủ đốt cháy và thắp sáng ngọn lửa trong buổi chiều hoàng hôn. Cho nên chuyên dụng Nhâm thủy, phụ trợ ánh sáng mặt trời thêm rực rỡ.


    Bính hỏa đến Thân làm Bệnh địa, như Thái Dương quá Ngọ, dương khí suy yếu, mặt trời gần Tây sơn, gặp Thổ thì ánh sáng mờ tối, không thể so sánh ánh nắng mặt trời đang lúc giữa buổi trưa hè khó mà có thể bị mờ tối vậy. Cho nên không thể dụng Thực thương, Canh kim cung Thân đắc lộc, Nhâm thủy trường sinh, như Bính hỏa thông căn Dần Tị, thân cường thì dụng Tài sinh Sát, là chính cách của Bính hỏa sinh vào tháng 7. Dụng Nhâm không thể thiếu Ấn Tỷ, cần chú ý điều này.


    Nhâm thủy nhiều lấy Mậu thổ chế mới kỳ diệu, trong Thân có Nhâm, lại có Nhâm xuất can, lại thấy Mậu thấu, khoa bảng có chắc, như Thìn Tuất tàng Mậu, chỉ đến tú tài, Nhâm nhiều mà không có Mậu chế, chỉ là thường nhân, hoặc một Nhâm trong Thân, gặp nhiều Mậu chế, cũng thuộc thường nhân, Nhâm nhiều không có Quý, được một Mậu chế, gọi là quần Sát ngang ngược điên cuồng, một lòng nhân từ ( Ấn thụ??) có thể hóa, khoa bảng quan chức hiển đạt.


    Đoạn văn trên nói Bính hỏa sinh vào tháng 7, không hợp với dụng Mậu thổ, song Nhâm thủy nhiều, thì không thể không lấy Mậu thổ chế Nhâm, thân cường Sát vượng, mà vận hành đến đất chế Sát, thì đương nhiên quý hiển, một Nhâm trong Thân, gặp nhiều Mậu chế, đó là chế Sát thái quá, chỉ có dụng Canh kim trong Thân hóa Thực thần sinh Sát, thì phú mà không quý, gặp Quý hợp Mậu thì cũng là trói buộc dụng thần chỉ có thể giầu có mà thôi.


    Hoặc gặp một bầy Canh kim, không thấy Tỉ Ấn và Tân kim, lại làm khí mệnh tòng Tài ( bỏ mệnh theo Tài), đó là những mệnh tạo đặc biệt, tuy không khoa giáp, thì cũng hiển đạt bằng con đường khác biệt nào đó. Tuy nhiên có nhiều chỗ giựa thân thích thì sẽ có bàn đạp để tiến thân.


    Bính hỏa đến Thân, khí đã suy tuyệt, gặp một bầy Canh kim, thì bỏ mệnh theo Tài ( khí mệnh tòng Tài), thông thường theo cách cục này thì đa số đạt được sự giầu có. Vì vậy mới nói là người hiển đạt bằng con đường khác biệt nào đó, cung Thân có Canh lộc Nhâm sinh, Tài vượng sinh Quan đó là lý dọ vậỵ. Gặp Tân Bính hợp lại thành Thủy cục, thì trở thành hóa cách, chỉ có hóa mà không gặp thời, cũng chỉ là nhân vật bình thường.


    Người dụng Mộc, thì Thủy làm thê, Mộc làm tử (con), thê tất hiền từ mà tài năng.


    Bính hỏa sinh vào tháng 7, dương khí đã suy, không rời sinh phù, dụng Nhâm thủy không thể thiếu Ấn, chuyên lấy Sát Ấn tương sinh, gặp Mậu chế Nhâm, cũng phải phòng Hỏa tối, mà không thể thiếu Giáp mộc, gặp Giáp, Bính Nhâm khí thanh trong, mới có thể giành được quý hiển vậy, Thủy
    ( Mộc??) có thể hóa Sát giúp thân, cho nên vợ tất hiền mà giỏi giang.

    Tóm lại
    : Bính hỏa sinh vào tháng 7 chuyên dụng Nhân thủy sau mới đến Mậu.

    Hết bài văn trên.

  6. Cảm ơn bởi:


  7. #84
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,082
    Ất Mùi, Giáp Thân, Bính Thân, Canh Dần
    Tài sinh Thất sát cách. Quan Tham chính.


    Theo mệnh tạo trên, đây là chính cách của Bính hỏa sinh vào tháng 7. Tuy hai Thân xung Dần, Giáp Ất hai can cùng thấu, có Ấn tương sinh, nhật nguyên không nhược, lấy Tài sinh Sát làm dụng. Mệnh tạo trên trích trong sách Tạo hóa nguyên thược.


    Bính Thân, Bính Thân, Bính Ngọ, Bính Thân.


    Sinh giờ Thân ngày 25 tháng 7 năm thứ 16 đời vua Đạo Quang.


    Mệnh Lưu Minh Phó: Sát Nhận cách, (nhập)
    nhật nguyên có khí, dụng Tài sinh Sát, vị đến Tổng đốc.

    Canh Tuất, Giáp Thân, Bính Thân, Quý Tị.


    Sinh giờ Tỵ ngày 6 tháng 7 năm thứ 30 đời vua Đạo Quang.


    Mệnh Lục Bảo Trung: Tài Quan Ấn cùng thấu, chuyên lấy Sát Ấn tương sinh, năm Đinh Sửu vận Đinh được trao chức Sử quan,
    Là năm có đại tang, năm Tân Mão vận Mậu trông coi thư phòng phía Nam, năm Đinh Dậu vận Tý học nghiệp vụ quản lý cơ quan nhà nước ở Triết Giang thì chịu tang mẹ, bất ngờ qua đời Thụy hiệu là Văn Thận.

    Mậu Dần, Canh Thân, Bính Dần, Canh Dần.


    Sinh giờ Dần ngày 18 tháng 7 năm thứ 4 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Kim Nhuận Tuyền: Dụng Thực thần sinh Tài, phú cách.


    Ất Dậu, Giáp Thân, Bính Thìn, Mậu Tuất.


    Sinh giờ Tuất ngày 20 tháng 7 năm thứ 11 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Dương Vũ Đình Tham mưu trưởng quân đội: Giáp mộc xuất can phá Mậu, dụng Nhâm thủy trong Thân, Tài sinh Sát nhược. Năm Mậu Thìn vận Thìn, chết mà phải bỏ mạng. Hoặc nói là giờ Canh Dần.


    Ất Dậu, Giáp Thân, Bính Thìn, Giáp Ngọ.


    Sinh giờ Ngọ ngày 20 tháng 7 năm thứ 11 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Tiền Tân Chi: Tứ trụ này nghi ngờ là giờ Quý Tị, Tị Thân tương hợp, Mậu thổ chế Sát, chuyên dụng Canh kim, thân vượng đảm nhiệm được Tài, làm giám đốc Ngân hàng. Nếu giờ Giáp Ngọ, tất dụng Nhâm Sát, thêm vào đó kẹp lộc kẹp Ấn quý, tương xứng với nắm chính quyền, chứ không chỉ đứng đầu trong nghành tài chính vậy.

  8. Cảm ơn bởi:


  9. #85
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,082
    Bính hỏa sinh vào tháng 8.

    Bính hỏa sinh vào tháng 8, mặt trời gần đến hoàng hôn, ánh sáng của Bính còn dư, tích trữ ở biển hồ, vẫn dùng Nhâm thủy bổ trợ thêm ánh chiếu.


    Bính hỏa sinh vào tháng 8, như mặt trời lặn xuống Tây Sơn, ánh sáng còn dư chiếu trên biển hồ và ánh sáng phản chiếu cùng nhau nâng đỡ để sinh cho ánh sáng buổi chiều được chiếu sáng thêm rực rỡ ( ý nói: Ánh sáng phản chiếu từ mặt nước biển hồ "Nhâm" kết hợp với ánh sáng mặt trời đã về chiều " Bính", để làm cho anh sáng của mặt trời đã về chiều " Bính" vẫn luôn được tỏa sáng rực rỡ), tuy dụng Nhân thủy, mà không thể không có Ấn Tỷ, nguyên nhân là do khí của Bính hỏa đã suy nhược vậy, dụng Tài tức bênh vực ( sinh ) Sát, dụng Thổ khiến ánh sáng ( Bính ) mờ tối, duy chỉ lấy Nhâm thủy phụ thêm cho ánh sáng mặt trời xế chiều, mà nếu lấy Ấn Tỷ cùng phối hợp mới là Quý cách.


    Tứ trụ Bính nhiều, một Nhâm cao thấu là kì diệu, như độc Nhâm tàng chi, chỉ đến tú tài, hoặc thổ nhiều mà vây hãm Thủy, chẳng qua cũng chỉ là nhân sĩ tài năng. Nếu như không có Nhâm thủy, Quý cũng có thể dụng, nhưng phát đạt không dài.


    Dụng Nhâm tất nhiên lấy Bính nhiều trong tứ trụ làm điều cốt yếu, tháng 7, tháng 8 đều cùng một lý này vậy. Thân cường gặp Tài vượng sinh Sát, xác định chủ phú quý, đó là lý do Kim Thủy tiến khí vậy, Nhâm thủy tàng chi, Dụng thần lực mỏng, hành vận dẫn xuất, cũng có thể hiển đạt, bằng không thì khốn khổ nghèo túng. Sợ nhất Mậu nhiều vây hãm Thủy, Kỷ nhiều thì hỗn trọc, tức chỉ là người vô dụng mà thôi, Bính hỏa dụng Nhâm, Mặt trời chiếu sáng trên biển hồ, thì ánh sáng có tượng lóng lánh trong suốt, Quý thủy là sự ẩm ướt của mưa móc tuy cũng khả dụng, song vẫn luôn có sự lo ngại về tiết trời u ám với tiết trời trong xanh không được rõ ràng vậy.


    Hoặc gặp nhiều Tân xuất can, không thể tòng hóa. chỉ hưởng một chút phúc đức của tổ tông mà thôi, khi phụ thân qua đời thì nghèo khổ túng quẫn đến già, hoặc gặp Đinh chế Tân, gian trá thất thường, nữ mệnh hợp với cách này vậy, phụ nữ thì nắm điều, chủ dâm tiện.


    Bính hỏa gặp Tân mà lo sợ, gặp Tân nhiều xuất can, tất cần chi thành Kim cục, theo Tài thành cách, mới là thượng mệnh phú quý. Nếu như trụ có Kiếp Ấn, hoặc gặp căn cực suy, không thể tòng hóa, ( hoặc giả tòng) không thể làm mệnh đẹp được, Bính có căn nhỏ, thì chỉ hưởng một chút phúc đức của tổ tông mà thôi. Như một mệnh tạo sau: Mậu Tý, Tân Dậu, Bính Thân, Kỷ Sửu. Chính xác vậy, Hỏa đến Dậu là ở Tử địa, Kim Thần đương vượng, không phải Ấn Tỷ trong nguyên mệnh trợ giúp thân vượng, không thể dụng Tài Quan, gặp Đinh chế Tân, Bính hỏa vẫn nhược như cũ, tiến thoái đều mất căn, cho nên nam chủ gian trá, nữ chủ dâm tiện.


    Hoặc chi thành kim cục, vô Tân xuất can, không làm tòng Tài luận, cho dù có trực tiếp ở trong nhà quyền quý thì cũng chết đói mà thôi. Như chi thành Kim cục, có Tân xuất can, không thấy Tỉ Kiếp, chính ( thuần) tòng Tài cách, phú quý. Hoặc được quý nhân đề bạt, người thân thích nâng đỡ, vợ hiền đảm đang. Nối tiếp đoạn trên nói, can thấu Tân kim, chi không có Kim cục, không thể tòng hóa. Như vậy lại nói chi thành Kim cục, Tân kim không thấu, cũng không lấy tòng Tài luận, chính là Tài đa Thân nhược, tuy ở gác tía lầu son, mà giống như vẫn chết đói. Như Tân kim xuất can, chi thành Kim cục, không thấy Tỉ Ấn, mới là chân tòng, Tài cách chân mà cục chính, tất chủ hiển đạt, tòng cách chủ là do nhân tài mà đạt đến phú quý, tòng Tài cách chủ được vợ khỏe mạnh chăm chỉ.


    Tóm lại
    : Bính hỏa sinh vào tháng 8, chuyên dụng Nhâm sau mới đến Quý, người dụng Thủy thì Kim làm vợ, Thủy làm con, người dụng mộc thì Thủy làm vợ, Mộc làm con. Bính hỏa sinh vào tháng 8, Thân cường dụng Nhâm, tài vượng sinh Sát làm thượng cách, thấy ở tiết đầu. Nếu Nhâm Quý xuất can mà Bính hỏa không vượng, thì không thể không dụng Ấn, cho nên tháng 8 là Tử địa của Hỏa mặt trời gần Tây Sơn, không có Giáp mộc thì không thể hóa Nhâm thủy để sinh Bính hỏa. Giống với cách luận ở tháng 7.

    Bính Tý, Đinh Dậu, Bính Ngọ, Giáp Ngọ.


    Hai can không tạp, Tài sinh Thất sát cách, xuất chinh là tướng soái, nhập chiều là tể tướng, sinh giờ Tý không quý.

    Theo mệnh tạo này, tháng Dậu kim nắm lệnh, Tài vượng sinh Quan, Quan Nhận làm dụng, là người văn võ toàn tài, đang ở trong vận Nhâm Dần Quý Mão vậy. Tháng 8 Bính hỏa thoái khí, do đó trông cậy hoàn toàn vào Ngọ hỏa, tốt là có Tý ở trụ năm, không xung Ngọ Nhận. Như sinh giờ Tý, Tý Ngọ tương xung, thì không có cái chết an lành vậy.


    Bính Dần, Đinh Dậu, Bính Thìn, Đinh Dậu.


    Hai can không tạp, giữ chức Thượng thư.


    Theo mệnh tạo này, chuyên dụng Tài tinh, cũng may nhật nguyên tọa Thìn là đất Quan đới, Bính hỏa có khí, càng mừng gặp trụ năm Bính Dần, Bính hỏa Trường Sinh, hơn nữa hai can không tạp, cách cục thanh thuần, phú mà kiêm quý.


    Kỷ Mão, Quý Dậu, Bính Tý, Mậu Tý.


    Thương quan sinh Tài cách, tham gia quân đội, nhưng
    âm hình Sát trọng, vận Mão hi sinh tại mặt trận.

    Theo mệnh tạo này Quý thủy Quan tinh, bị Kỷ thổ gây thương tích. Cho nên dụng Thương quan sinh Tài, và không dụng Tài Quan. Nhưng Bính hỏa đều trông cậy vào Mão Ấn tương sinh, Mão Dậu cùng xung, thì Ấn thụ bị thương hại, tái hành vận Mão, Suy thần xung vượng, Tài tinh phá Ấn dễ dàng nhận thấy ( bị tử trận) vậy.

  10. Cảm ơn bởi:


  11. #86
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,082
    Đinh Dậu, Kỷ Dậu, Bính Thân, Đinh Dậu
    Tài sinh Thất sát, cho nên chuyên dụng Nhâm thủy, chỉ tiếc hai Đinh xuất can, Tài thần không hiện, chỉ là anh học trò nghèo mà thủ cựu, hình mà còn cô độc.


    Theo mệnh tạo này, tuy có hai Đinh trợ giúp Bính, mà Bính Lâm ở Thân, chắc chắn không thông căn, Tài vượng thân nhược không có Ấn sinh trợ, thảo nào đã tự hình mà còn cô độc. Kỷ thổ xuất can làm mờ Hỏa vẩn đục Nhâm. Trích Thiên Tủy nói rằng: thanh khí vẫn hiềm Quan không phất, cho nên chỉ là anh học trò thủ cựu mà thôi.


    Bính Thân, Đinh Dậu, Bính Tuất, Ất Mùi


    Tú tài, đại phú, không Huynh đệ, nhưng có 5 con.


    Theo mệnh tạo này, Bính hỏa tọa Tuất, thông căn Hỏa khố, hơn nữa lại được Ấn thụ Ất Mùi sinh, Hỏa vượng dụng Kim. Cho nên đại phú.


    Đắc lực ở giờ, cho nên nhiều con, anh em ứng hợp mà không có, hầu như nguyên nhân là bởi tháng 8 Hỏa lâm tuyệt địa. Những ví dụ trên lấy từ Sách tạo hóa nguyên thược.


    Đinh Sửu, Kỷ Dậu, Bính Ngọ, Kỷ Sửu.


    Sinh giờ Sửu ngày 24 tháng 8 năm thứ 3 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Đường Tự Bồi: Hỏa vượng dụng Kim, hơn nữa được Kỷ thổ sinh, Thương quan sinh Tài, là cách cự phú.


    Kỷ Mão, Quý Dậu, Bính Thìn, Mậu Tuất.


    Sinh giờ Tuất ngày 15 tháng 8 năm thứ 5 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Cấp Kim Thuần: Không có Nhâm, Quý là vật gây cản trở cho Mậu Kỷ, dụng Thương quan sinh Tài, chính là phú mà không quý, lấy Mão Thìn Dậu Tuất, Đông Tây kẹp củng, làm Quan đến chức Quân trưởng ( Quân đoàn trưởng)


    Tân Tị, Đinh Dậu, Bính Dần, Kỷ Hợi.


    Giờ Hợi ngày 7 tháng 8 năm thứ 7 đời vua Quan Tự.


    Mệnh Vương Dao Khanh: Thân vượng dụng Tài mà còn gặp Đinh chế Tân, chuyên dụng Kỷ thổ Thương quan,
    Bính Dần Hồng Diễm Đào Hoa, Thương quan hợp với Đào hoa, là cuộc đời đào kép.

    Mậu Tý, Tân Dậu, Bính Thân, Kỷ Sửu.


    Sinh giờ Sửu ngày 17 tháng 8 năm thứ 14 đời vua Quang Tự.


    Mệnh Trần XX: Gặp Tân xuất can ( Nam Xương) chi không thành cục, không thể tòng Tài, Bính hỏa vô căn, gọi là tòng mà không thể tòng, mệnh là con thừa tự. Nhưng chỉ được hưởng một chút ít phúc lộc của tổ tiên, cho nên là một tú sĩ có tài mà thôi.

  12. Cảm ơn bởi:


  13. #87
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,082
    Bính hỏa sinh vào tháng 9

    Bính hỏa sinh vào tháng 9 càng suy yếu, kị Thổ làm cho ánh sáng bị mờ tối, trước dụng Giáp mộc, sau dụng Nhâm thủy.


    Bính hỏa đến tháng 9 là đất Hỏa Mộ địa, Hỏa dễ bị Thổ làm cho mờ tối nhất, mà cũng kị nhất là ánh sáng của Hỏa bị mù mịt, không gặp Nhâm thủy, như Thái dượng lặn xuống đường chân trời thì ánh sáng còn dư phản chiếu từ sóng của sông hồ mà lên, đặc biệt rực rỡ. Cho nên trước lấy Giáp mộc chế Thổ, tiếp theo lại dụng Nhâm thủy bổ trợ sức chiếu sáng. Giáp Nhâm cùng thấu, khoa bảng có chắc, phú quý phi phàm. Nếu như không có Nhâm thủy bổ trợ Bính giúp đỡ Giáp, được Quý thấu can, cũng chủ hiển đạt bằng con đường kì lạ nào khác, Nhâm Quý tàng chi, Cống giám mà thôi, Giáp tàng Nhâm thấu, không có Canh phá Giáp, có thể bằng lòng với tú tài vậy, hoặc Canh vây hãm Mộc, Mậu vây hãm Thổ, thì chắc chắn là kẻ tầm thường, trong cục không có Giáp Nhâm Quý là hạ cách.

    Mùa thu tháng 9 Thổ táo Mộc khô, dụng Giáp không thể không có Thủy, cách dùng của Nhâm Quý thủy đều như nhau, nhưng Nhâm thủy kiêm có công trợ Bính, Quý thủy chỉ có tác dụng nhuận Mộc, cho nên khi gặp thì có thể chứng nghiệm được, mà không hề có sự giống nhau vậy.

    Hoặc một bầy Hỏa thổ, tuy không vượng, thì cũng đương nhiên khô táo, nếu như quá vãng không rời quê cha đất tổ thì cũng chủ lưu đầy đến già, hoặc làm tăng đạo, hơn nữa không có Canh Tân Nhâm Quý xuất can, bần mà yểu.


    Cung Tuất là mộ khố của Hỏa, giống với tháng Mùi là khô táo, tiết nhược khí của Bính hỏa, Như mệnh tạo sau: Mậu Tuất, Kỷ Mùi, Bính Tuất, Ất Mùi. Bính hỏa không vượng mà hanh khô, chính là mệnh thiếu Canh mà xuất thế, tứ trụ không có Canh Tân Nhâm Quý cứu tế, cuối cùng nghèo túng mà chết yểu vậy.

    Hoặc chi thành Hỏa cục, viêm thượng thất lệnh, vận nhập Tây phương, nghèo túng dị thường, không để ý tới vợ con.
    Tháng 9 Bính hỏa nhập mộ, Viêm thượng không phải mùa của nó, phàm Viêm thượng cách tất hành vận Đông Nam, hợp với thể tính của Viêm thượng, thì tốt lành. ( xem tiết tháng 5 ở trên) Vận hành Tây Bắc, cho dù đắc thời thành cách, cũng khó phát đạt, huống chi lại còn thất lệnh.

    Hoặc Kỷ thổ xuất can, Giáp mộc không thấu, tuy có Tỉ Kiên trợ Thân, khó chế được Thổ đương quyền, thì chỉ là người vô dụng vậy.

    Tháng 9 Thổ táo mà trọng nặng, phải lấy Thủy nhuận Giáp mộc làm dụng, không có Nhâm Quý Giáp, tuy Bính hỏa gặp nhiều thì cũng không ích lợi gì, người dụng Giáp thì Thủy làm thê Mộc làm tử, người dụng Nhâm thì Kim làm thê Thủy làm tử.

    Mậu Kỷ xuất can, phải dụng Giáp, khử Bệnh làm quý, Nhâm Quý tàng chi làm phụ tá, Hỏa nhiều mà thấu, dụng Nhâm Quý chế hỏa nhuận Thổ để sinh Giáp, dùng Nhâm Quý làm chủ, Giáp chế thổ làm phụ trợ.


    Kỷ Hợi, Giáp Tuất, Bính Tý, Mậu Tý.


    Giáp xuất Thiên can lại gặp sinh địa. Quan Hiếu liêm ( cử nhân).

    Theo mệnh tạo này, chuyên dụng Giáp mộc chế Thương hóa Quan Sát.

    Kỷ Dậu, Giáp Tuất, Bính Dần, Canh Dần. Mệnh Cô Bần.

    Theo mệnh tạo này, tuy có Giáp mộc xuất can, trụ không có Nhâm Quý, Thổ táo Mộc khô, đúng là người vô dụng vậy.

    Bính Thân, Mậu Tuất, Bính Ngọ, Mậu Tuất.

    Hai can không tạp, chi thành hỏa cục, chuyên dụng Nhâm thủy, tiên bần hậu phú.

    Theo mệnh tạo này, Nhật tọa Dương nhận, năm gặp Nhâm Sát, cách cục đạt Quý, chỉ tiếc Mậu thổ xuất can, trụ vô Giáp mộc, Mậu thổ làm mờ Bính chế Nhâm mà sinh Canh kim trong Thân, trở thành cách cục giàu có thôi.

    Canh Tuất, Bính Tuất, Bính Dần, Nhâm Thìn

    Phú đại quý nhỏ, do Giáp tàng Nhâm thấu là nguyên nhân vậy, cuối cùng chỉ là một Cống sĩ (2).

    Theo mệnh tạo này, Canh Nhâm cùng thấu, chỉ tiếc Canh Nhâm đều không thông căn, cho nên chỉ là một Cống sĩ mà thôi.

    Giáp Dần, Giáp Tuất, Bính Tuất, Nhâm Thìn.

    Theo mệnh tào này thì Thiên quan không có Tài tương sinh, tuy có Giáp mộc, cũng chỉ là mệnh bậc trung mà thôi. Các ví dụ trên lấy từ sách Tạo hóa nguyên thược.

    Bính Dần, Mậu Tuất, Bính Thân, Mậu Tý.

    Sinh giờ Tý ngày 3 tháng 9 năm thứ 11 đời vua Càn Long.

    Mệnh Hồng Bắc Giang: Tự là Trĩ Tồn, dụng Canh kim cung Thân sinh Nhâm Quý, chỉ tiếc Mậu thổ quá nặng, Giáp mộc tàng Dần, không thể phá Thổ, lấy bằng tiến sĩ và được trao chức quan Biên tu ( Quan Sử ngày xưa).

  14. Cảm ơn bởi:


  15. #88
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,082
    Đinh Sửu, Canh Tuất, Bính Ngọ, Canh Dần.

    Sinh giờ Dần ngày 5 tháng 9 năm thứ 22 đời vua Gia Kháng.

    Mệnh Thẩm Quế Phần: Bề ngoài tưởng như dụng thời thượng Thiên tài, chẳng biết rằng Dần Ngọ Tuất hội cục, thực tế Viêm thượng thất thời vậy, vận hành Giáp Dần Ất Mão, xuất thân hàn lâm, được tấn phong đến chức Đại học sĩ.

    Tân Tị, Mậu Tuất, Bính Tuất, Nhâm Thìn.

    Giờ Thìn ngày 9 tháng 10 năm đầu đời vua Đạo Quang.

    Mệnh Mã Tân Di: Tân kim tiết Thổ sinh Nhâm, xuất thân tiến sĩ, làm đến Quan Tổng đốc, chỉ tiếc tứ trụ không có Giáp mộc, hành vận Nhâm Thìn, gặp phải trái ngang mà mất mạng.

    Tân Dậu, Mậu Tuất, Bính Ngọ, Canh Dần

    Sinh giờ Dần ngày 21 tháng 9 năm thứ 31 đời vua Hàm Phong.

    Mệnh Diêm Tử Minh: Chi thành hỏa cục, thành cách Thực thần sinh Tài, Hỏa nhập Mộ, hỉ hành đất sinh vượng, hành vận Đông Nam, cha được tử Quý, là mệnh đại phú.

    Ghi chú
    1- Tây Sơn (còn gọi là Bích Kê) là dải núi nằm ở Phía Tây, cách Côn Minh 12 km. Đi theo con đường rải nhựa xuyên qua những cánh rừng nguyên sinh lên núi Tây Sơn, du khách sẽ được tham quan những thắng cảnh nổi tiếng như Hòa Đình Tự, Thái Hòa Tự, Tam Thanh Các, Long Môn. Ở Trung Quốc thường là các phái Tôn giáo chia rất rõ ràng, như núi Võ Đang là núi Đạo giáo, núi Nga My là núi Phật Giáo, nhưng núi Tây Sơn Long Môn ở Côn Minh thì lại là tam giáo hợp nhất. Có nghĩa là Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo đều thể hiện trên một ngọn núi Tây Sơn là một nét rất độc đáo. Đây là khu phức hợp đình đài của Đạo Giáo, Nho Giáo và Phật giáo và là điểm tham quan chính của du khách khi đến Côn Minh.

    2- Cống Sĩ: Tên gọi một cấp trong việc thi khoa cử của Chính quyền trung ương cổ đại Trung Quốc. Nguyên chỉ các nước chư hầu cổ đại tiến cử những bậc nhân sĩ cho Vua. Thời Đường, Tống lấy việc thi khoa cử ở các Châu ( Phủ), huyện người nào đạt yêu cầu gọi là Hương cống. Thời Minh Thanh, người nào đạt yêu cầu trong kì thi hội gọi chung là Cống sĩ. Chế độ nhà Thanh gọi những người vượt qua kì thi hội thì làm Cống sĩ, và sau đó trải qua thi đình được triều đình ban thưởng, và làm tiến sĩ. Nhưng thói quen trên sau mỗi lần vượt qua kì thi hội thì gọi là Tiến sĩ.


  16. #89
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,082

    Bính Hỏa sinh vào tháng 10.

    Bính Hỏa sinh vào tháng 10.
    Bính Hỏa sinh vào tháng 10, Thái dương ( Bính hỏa) thất lệnh, gặp Giáp Mậu Canh cùng thấu, nhất định có khoa bảng, phong thổ bất cập, cuối cũng cũng thuộc nhân tài được đề cử, chủ là người có tính cách tốt đẹp thanh cao, danh nhân văn hóa.


    Tháng 10 Hỏa ở Tuyệt địa, cực hưu tù, cần dụng Giáp mộc để sinh, Nhâm thủy cung Hợi nắm lệnh,
    Giáp mộc tuy Trường Sinh nhưng không vượng, mộc ướt không thể nhóm lửa, được Mậu thổ chế thủy, chính là lý do vun bồi cho mộc, mộc vượng tự nhiên sinh Bính hỏa vậy, Bính hỏa do gặp Nhâm thủy là quý. Mậu thổ chế Nhâm, làm mất đi ý nghĩa phụ giúp sinh cho ánh sáng chiếu thêm rực rỡ, cho nên lại lấy Canh kim làm bổ trợ, Canh kim hóa Mậu thổ để sinh Nhâm thủy, dụng (thần) lấy Sát Ấn tương sinh. Cho nên khi gặp Giáp Mậu Canh cùng thấu, nhất định có phú quý vậy.

    Hoặc Bính nhật chủ có Tân thấu, lại gặp chữ Thìn, hóa hợp gặp giờ, là mệnh đại quý.


    Trong hóa khí, Bính hỏa thấy Tân,
    không dễ hóa nhất, khi so sánh với Giáp mộc gặp Kỷ thì (hóa khí Giáp Kỷ) là ưu tú nổi bật nhất, Trích Thiên Tủy nói rằng: Ngũ dương đều dương Bính là nhất, lại lấy ta khắc hóa mà trở thành khắc ta, không phải địa chi toàn gặp kim thủy, khí thế của Bính hỏa đã tử tuyệt, không dễ hóa vậy. Sinh vào mùa của tháng Hợi thủy vượng, chi thành thủy cục, hoặc toàn Bắc phương, lại thấy chữ Thìn, mới là chân hóa, hóa hợp đắc thời, chủ đại phú quý.

    Hoặc thủy nhiều nhưng có Giáp vô Mậu, lại khó tòng Sát, cần phải dùng Kỷ thổ hỗn Nhâm Sát mới kì diệu.


    Giáp mộc cung Hợi trường sinh, tuy Tứ trụ Nhâm nhiều nguyệt lệnh đắc Lộc, không lấy tòng Sát luận, mà có Giáp mộc tiết khí Sát, Sát Ấn tương sinh, Bính hỏa Tuyệt mà lại không Tuyệt đây là lý do vậy, nên dụng Kỷ thổ làm hỗn Nhâm, hỗn chứ không phải chế vậy, khiến cho Nhâm thủy xung thẳng đến, mà không phải Kỷ thổ có thể chế, đương nhiên thủy được thổ làm cho hài hòa, mà lại có thể sinh Mộc, là căn của Bính hỏa, Giáp mộc xuất can lại càng đẹp,
    không có Giáp thì lấy Giáp trong cung Hợi làm dụng, mộc có sức sống, cho nên có thể dụng vậy, dưới cách xem Kỷ thổ hỗ Nhâm phần nhiều hiển nhiên có thành tựu. Mộc của tháng 10, gặp Mão Mùi hội cục, vượng cùng với mộc, Hợi và Mùi hội, lý giống Kỷ thổ hỗn Nhâm, hỏa có thể sinh thổ, thổ chế thủy bồi mộc, hỏa dựa vào để sinh, chính là ý nghĩa mà Trích Thiên Tủy nói về phản sinh vậy.

    Hoặc Tứ trụ nhiều Nhâm, nhiều Thân ( kim), lấy khí mệnh tòng Sát luận ( bỏ mệnh theo Sát), tuy không phát khoa bảng, cũng không mất đi được giai tầng của một gia đình cán bộ công chức.


    Tiếp nối đoạn văn trên thì cung Hợi có Giáp, cung Thân có Canh, Canh kim chế Giáp, sức sống của mộc bị cắt đứt, thì Bính hỏa mới có thể tòng Sát, không có Thân không lấy tòng luận.


    Tóm lại: Bính hỏa trong tháng 10, Mộc nhiều dụng Canh, thủy nhiều dụng Mậu, hỏa nhiều dụng Nhâm, tùy nghi đắn đo cân nhắc mà sử dụng. Nếu thủy nhiều mà không có Mậu, mộc thịnh Không có Canh, vậy chỉ là người bình thường mà thôi.


    Nói như vậy ứng với cách dụng của bệnh và dược, cùng với Giáp Mậu Canh ở tiết đầu đều thấu thì không giống nhau, mộc vượng cần Canh, dụng Tài tổn Ấn vậy, thủy vượng cần Mậu, lấy Mậu thổ làm đề phòng vậy, song Bính hỏa của nguyên cục nhất định phải được sinh vượng, mới có thể dụng Mậu, bằng không khắc tiết cùng sảy ra. Hỏa vượng dụng Nhâm trợ giúp thêm cho ánh chiếu sáng thêm rực rỡ. Tóm lại: Bính hóa sinh vào tháng 10, lấy Giáp mộc làm nhân tố chủ yếu, Canh Mậu Nhâm tùy hoàn cảnh có lợi hoặc không có lợi mà có thể sử dụng.

  17. Cảm ơn bởi:


  18. #90
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,082
    Tân Tị, Kỷ Hợi, Bính Tý, Nhâm Thìn.

    Mệnh này thủy nhiều, lấy Kỷ thổ làm dụng, , đại phú quý cũng thọ đến già, lại sinh quý tử.


    Theo mệnh tạo này chính là Kỷ thổ hỗn Nhâm cách, Bính hỏa sinh tháng 10, đất tuyệt phùng sinh, mệnh đại quý vậy, người có mệnh đất tuyệt phùng sinh, tức nhật nguyên gặp tuyệt, Ấn thụ trường sinh, song Nhâm thủy cung Hợi đương vượng, thủy xung thẳng đến, không thể sinh Mộc, lấy Kỷ thổ hỗn hợp Nhâm thủy, khiến chở thành lợi ích của phản sinh, cách cục lấy Kỷ thổ hỗn Nhâm, dụng thần vẫn ở Giáp mộc, với Mậu thổ là dụng pháp đê phòng, tuyệt nhiên không giống nhau. Phàm dụng Nhâm thủy, đều kị Kỷ thổ làm hỗn trọc, duy chỉ có cách này mới lợi dụng sự hỗn trọc của nó ( Kỷ thổ), để bồi dưỡng Giáp mộc sinh Bính hỏa, đây là loại cách cục đặc biệt lạ lùng vậy.


    Giáp Thân, Ất Hợi, Bính Tuất, Canh Dần.


    Canh Giáp lưỡng thấu Mậu thổ đắc vị. Làm quản lý kho lương.


    Theo mệnh tạo này Bính tuy sinh vào tháng 10, Ấn vượng Thân cường, lấy Tài tinh Canh kim sinh Quan làm dụng,
    Mậu thổ vượng ở Tuất, cho nên mới nói Mậu thổ đắc vị vậy.

    Nhâm Thìn, Tân Hợi, Bính Tuất, Mậu Tý.


    Quan Hiếu liêm.


    Theo mệnh tạo này, Bính hỏa thông căn ở thân khố, Nhâm thủy xuất can, được Giáp mộc thì quý, thân Sát không vượng mà dụng Mậu thổ, quý không đáng là bao.


    Nhâm Thìn, Tân Hợi, Bính Ngọ, Nhâm Thìn


    Hóa hợp gặp thời. Hàn lâm.


    Theo mệnh tạo này, nhật nguyên Bính Ngọ tọa Dương nhận, Thìn Ngọ kẹp Tỵ lộc, Bính hỏa ám vượng, không thể tòng hóa,
    cũng may Đinh Kỷ trong Ngọ với Nhâm Giáp trong Hợi hai hai tương hợp, khí thế đoàn tụ, Đinh Nhâm hóa hợp, Kỷ thổ hỗn Nhâm sinh Giáp mộc, vẫn lấy Giáp Ấn làm dụng, Sát vượng làm Ấn, điều đắc ý này là đương ở vận Giáp Dần Ất Mão vậy. Những ví dụ trên lấy trong sách Tạo hóa nguyên thược.

    Tân Mùi, Kỷ Hợi, Bính Thìn, Kỷ Hợi.


    Sinh vào giờ Hợi ngày 11 tháng 10 năm thứ 16 đời vua Gia Khánh.


    Mệnh Công quốc phiênTằng Văn Chính : Kỷ thổ hỗn Nhâm cách, xuất chinh làm tướng soái, nhập chiều làm thừa tường. Giải thích tường tận ( như ) mệnh Tân Tỵ ở trên, Hợi Mùi củng Mão, hóa Sát làm Ấn, qủa là thấy xuất sắc tuyệt vời vậy.


    Nhâm Thân, Tân Hợi, Bính Ngọ, Canh Dần.


    Sinh vào giờ Dần ngày 7 tháng 10 năm thứ 17 đời vua Gia Khánh.


    Mệnh Công tông đường, Tả Văn Long: Bính Ngọ nhật nguyên tọa Dương nhận, Nhâm Sát đến sinh đắc lộc, Sát Nhận lưỡng đình, lấy Giáp mộc cung Dần làm dụng, thủa nhỏ hai vận Nhâm Tý Quý Sửu gian nan, nhập Giáp Dần Ất Mão Đông Nam vận, công thành danh tọai, phù hợp thay, Quan đến Tổng đốc, phong cách nhún nhường mà quyền quý.


    Nhâm Thân, Tân Hợi, Bính Dần, Canh Dần.


    Sinh giờ Dần ngày 27 tháng 10 năm thứ 17 đời vua Gia Khánh.


    Mệnh Từ Tông Doanh: Nhâm thủy đương vượng, lại được Tài sinh, lấy Giáp cung Dần làm dụng, vị đến Tổng đốc.


    Bính Tuất, Kỷ Hợi, Bính Tý, Nhâm Thìn.


    Sinh giờ Thìn ngày 27 tháng 10 năm thứ 12 đời vua Quang Tự.


    Mệnh tướng quân Trần Điều Nguyên: Kỷ thổ hỗn Nhâm cách ( gặp ở bên trên).

  19. Cảm ơn bởi:


 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •