Chào mừng đến với Tử Bình diệu dụng.
Trang 8 của 8 Đầu tiênĐầu tiên ... 678
Kết quả 71 đến 71 của 71
  1. #71
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,012
    Chính văn:
    Thời thượng nhất vị quý,
    Tàng tại chi trung thị,
    Nhật chủ yếu cương cường,
    Danh lợi phương hữu khí.


    Đại lục bình chú:
    Gọi là "Thời thượng nhất vị quý cách", là chỉ cách cục bát tự chỉ có một vị Thất Sát ở địa chi trụ giờ. Quyết nói: "Thời thượng Thất Sát là Thiên Quan, thân cường có chế xem như mệnh tốt. Chế quá hỉ gặp vận Sát vượng, ba phương đắc địa phát khách khí. Gốc không có chế phục vận cần thấy, đủ không sợ nhiều Sát hình xung, nếu là thân suy hành Sát vận, xác định mệnh bần hàn." Ý tức là: Thời thượng có một vị Thất Sát, nếu có chế phục thì là mệnh tốt, nhưng không nên chế phục thái quá. Mệnh cục nếu như không có chế phục, thì cần hành vận chế Sát mới phát. Mệnh cục nếu như chế Sát thái quá, thì lhông có sợ đến vận Sát nhiều Sát vượng. Cách này tối kị thân nhược Sát nhiều, cho nên nói nhấn mạnh "Nhật chủ yếu cương cường, danh lợi phương hữu khí."
    Nhưng mà, đoạn văn phía trước có nói "Hữu sát tiên luận sát, vô sát phương luận dụng" ( Có Sát thì luận Sát, không có Sát mới luận dụng), thì đã bao quát chi giờ ở bên trong đã có Sát, nếu như hiện tại lại đem Sát ở chi giờ thành lập một cách, như vậy ngoài ra vẫn có thể thành lập"Niên thượng nhất vị quý cách", "Nguyệt thượng nhất vị quý cách", "Nhật thượng nhất vị quý cách", nếu không, thì có là phép tắc thủ cách "Hữu sát tiên luận sát" không? Do vậy, chúng ta cũng có thể mang cách này "Thời thượng nhất vị quý cách" cùng với năm tháng ngày tất cả một vị quý cách đều nhập vào Sát cách, không có lý do chỉ có đem thành lập một cách.
    Còn nữa, đoạn nói này còn có một điều sai lầm, chính là vừa Sát cần có chế, như vậy, thì là vấn đề mang Sát chế nặng chế nhẹ, cùng với thân cường, thân nhược không có trực tiếp quan hệ với nhau. Một câu nói "Nhật chủ yếu cương cường, danh lợi phương hữu khí" rất dễ dàng khiến cho kẻ hậu học sinh ra ngộ nhận, vì đã có thân cường thì mới có thể đảm nhận Sát. Thực ra, Sát nếu không có chế, thân lại cường cũng là mệnh phá cách. Chỉ cần Sát vượng có chế, tức là nhật chủ vô căn cũng là mệnh tốt. Tôi nói là không tin, mời xem ở dưới một vài ví dụ thực tế, thì hiểu chỗ tác giả nói là không sai.
    Mệnh Hàn Hàn: Nhâm Tuất/ Kỷ Dậu/ Kỷ Dậu/ Đinh Mão.
    Trong vận Hợi Tý thủy trở thành 80 nhân vật là hoàng hậu thay chồng thống lĩnh ba quân, được danh lợi lớn.
    Mệnh Ngô Thiết Thành: Mậu Tý/ Ất Mão/ Kỷ Mão/ Ất Sửu.
    Trong vận Canh Thân, Tân Dậu nhậm chức Chủ tịch tỉnh Quảng Đông, Phó viện trưởng Viện Hành chính.
    Mệnh Giang Đăng Tuyển: Tân Tị/ Tân Sửu/ Mậu Thân/ Giáp Dần.
    Tốt nghiệp trường Sĩ quan Nhật Bản. Vận Đinh Dậu, nhậm chức Tổng Tư lệnh Quân Đoàn.
    Mệnh Tôn Hồng Y: Nhâm Thân/ Tân Hợi/ Mậu Thìn/ Giáp Dần.
    Trong vận Giáp Dần, Ất Mão làm quan nhậm chức Tổng trưởng Giáo dục, Tổng trưởng Nội vụ.
    Mệnh Đoan Mộc Chương: Canh Thìn/ Mậu Tý/ Kỷ Mão/ Ất Hợi.
    Nhiều lần giữ chức vụ quan trọng trong Quân Giới, vận Quý Tị nhậm chức xa hơn, Huyện trưởng Thang Khê nhiều năm.
    Mệnh Nghiêm Nột: Tân Mùi/ Kỷ Hợi/ Kỷ Sửu/ Ất Hợi.
    Xuất thân Tiến sĩ. Kim vận làm quan tới Thượng thư Lại Bộ, vận Ất Mùi nhậm chức Tể tướng.
    Mệnh Cát Thủ Lễ: Ất Sửu/ Kỷ Mão/ Mậu Thân/ Giáp Dần.
    Xuất thân Tiến sĩ, trong vận thủy kim làm quan tới Thượng thư Lễ Bộ, Hình Bộ.
    Mệnh Lý Quế Như: Canh Tý/ Mậu Tý/ Mậu Dần/ Giáp Dần.
    Xuất thân Tiến sĩ, làm quan tới Thượng thư Lại Bộ.
    Mệnh Lưu Thuận Chinh: Canh Tuất/ Ất Dậu/ Mậu Dần/ Giáp Dần.
    Trong vận thủy trở thành Tiến sĩ, làm quan tới Lang trung Hình Bộ.
    Mệnh Cố Hiến Thành: Canh Tuất/ Ất Dậu/ Mậu Thìn/ Giáp Dần.
    Tý vận năm Kỷ Mão được tiến cử, năm sau Canh Thìn được Tiến sĩ. Làm quan tới Ngự sử Đô Sát.

    (Hết)
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.



 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •