Chào mừng đến với Tử Bình diệu dụng.
Kết quả 1 đến 7 của 7
  1. #1
    Thành viên

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    2,224

    Luận tình cảm, hôn nhân

    (Các bạn chú ý: Tôi thường viết ngay trên diễn đàn nên đôi khi có sửa lại và bổ sung khi cần thiết.)

    Nói đến luận hôn nhân, khi xưa không bàn đến tình cảm trai gái, mà chỉ nêu lên các tiêu chí xác định thành bại của Tài hay Quan trong tứ trụ. Nữ mệnh dùng Quan Sát tinh đại biểu cho chồng, nam mệnh dùng Tài tinh đại biểu cho vợ. Tài vượng sinh Quan, hay Thực sinh Tài trong những điều kiện tốt đều là những nguyên nhân tạo nên hôn nhân tốt. Nhưng luận chính yếu như thế vẫn là luận cho nam, còn nữ thì vẫn xem là "tòng phu", tức là chồng có mệnh tốt thì bản thân được hưởng lây, ngược lại thì không.

    Ngày nay, cũng dùng các luận cứ căn bản mà luận giải cho nam nữ như nhau. Điều đáng nói là thời nay chúng ta đã chú trọng thêm về hiểu biết tâm lý, tình cảm cá nhân, nhân sinh quan cận đại để tìm hiểu cho các mệnh số mà không vướng mắc vào việc bỏ sót hay từ chối những qui luật âm dương ngũ hành tiền nhân đã dầy công nghiên cứu.

    Các nguyên tắc truyền thống luận hôn nhân như sau:

    (Duới đây ghi chung "chồng, vợ hoặc người sống chung thời gian lâu" là chồng/vợ)

    1. Quan Sát đối với nữ là chồng, Thiên tài và chính tài là vợ đối với nam.

    2. Trụ ngày (cung phu thê): địa chi đại biểu cho chồng/vợ

    Nữ: Bính nhật chủ lấy Quí là quan tinh làm chồng. Quí tàng trong Thìn, nằm ở cung phu thê là 1 trong những tiêu chí tốt. Đắc vị tốt nhất là Bính tọa Tí, vì Quí là bản khí của Tí.

    năm tháng ngày giờ
    Bính
    Thìn
    mậu, ất, quí

    Nam: Ất nhật chủ lấy Kỉ làm thiên tài. Trong cung phu thê Sửu tàng Kỉ bản khí, tức Tài tinh đắc vị.

    năm tháng ngày giờ
    Ất
    Sửu
    kỉ, quí, tân


    3. Vai trò của các thập thần gây nên nhiều vấn đề khác biệt về tình cảm hôn nhân:
    - Tỉ Kiếp nhiều hợp Tài/Quan
    - Tượng tranh hợp
    -
    Quan suy nhược hoặc khuyết hẳn Quan tinh trong tứ trụ, gặp Thương quan vượng

    ....a- Chồng/vợ có lực hấp dẫn đối tượng khác hoặc ngoại tình
    ....b- Trước khi kết hôn, chồng/vợ đã có tình cảm sâu đậm với đối tượng khác hay đã ly dị
    ....c- Quan hệ tình cảm của chính mình đối với chồng/vợ hời hợt, thậm chí lợi dụng nhau

    Thí dụ 2 Quí tranh hợp 1 Mậu, hoặc 2 Canh tranh hợp 1 Ất:

    năm tháng ngày giờ
    Quí Mậu Quí

    năm tháng ngày giờ
    Canh Ất Canh

    4. Cung phu thê tĩnh là lý tưởng cho một hôn nhân vững bền hay tình cảm sâu đậm. Tĩnh tức là không bị Xung, Hình, Hại, Phá. Tam hợp, lục hợp, tam hội cũng thường thay đổi tính chất của Tài tinh, Quan tinh.

    Nam: Quí nhật chủ lấy Bính làm chính tài. Bính là bản khí của Tị. Nhưng tam hợp Tị Dậu Sửu đã làm suy yếu tính chất của Tị hỏa. Hôn nhân có thể chỉ ngắn hạn hay không sâu đậm.

    năm tháng ngày giờ
    Tân Quí
    Dậu Tị Sửu
    bính, mậu, canh

    5. Đặc biệt nhất là luận thần sát để xác định rõ hơn về thành hay bại của Hôn Nhân.

    ...a- Đào Hoa: Tí Ngọ Mão Dậu

    Địa chi trụ năm/ngày Hợi Mão Mùi Tị Dậu Sửu Dần Ngọ Tuất Thân Thìn
    Đào hoa tại Ngọ Ngọ Ngọ Mão Mão Mão Dậu Dậu Dậu

    ...b- Hồng Diễm:

    Thiên can trụ ngày Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỉ Canh Tân Nhâm Quí
    Hồng Diễm tại Ngọ Ngọ Dần Mùi Thìn Thìn Tuất Dậu Thân

    Đào Hoa và Hồng Diễm là sao "tình ái". Trong tứ trụ biểu lộ sức hấp dẫn, ý tình rõ rệt đối với đối tượng. Tứ trụ nào không có 2 sao này gọi là bớt đi nhiều tính cách hấp lực về tình cảm ở cả 2 bên. Ở đại vận và lưu niên cũng được luận có hay không có Đào Hoa, Hồng Diễm, chúng nói lên thử thách, tiến tới tình cảm và đôi khi có kết quả về hôn nhân.

    ...c- Mộc Dục và Mộ: định theo 12 cung TSTT

    Thiên can trụ ngày Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỉ Canh Tân Nhâm Quí
    Mộc Dục tại Tị Mão Thân Mão Thân Ngọ Hợi Dậu Dần
    Mộ tại Mùi Tuất Tuất Sửu Tuất Sửu Sửu Thìn Thìn Mùi

    Mộc Dục là trạng thái ẩn dụ của trẻ mới sinh còn đang tắm rửa chưa có y phục, nên luận ở trường hợp không thuận lợi ám chỉ tình dục thái quá hoặc đè nén, biến hóa tính cách.

    Mộ là trạng thái thập can sau Tử đến nhập Mộ, ẩn ý là tàng chứa trong địa chi và không thấu lộ ra thiên can.

    Cả hai Mộc Dục và Mộ trong ý nghĩa trên ám chỉ tâm lý ẩn hình trong nhật chủ. Nếu Tài hay Quan tàng trong địa chi Mộc Dục hay Mộ thường nói lên sự kiếm khuyết tình cảm sâu sắc của nhật chủ, hoặc là nhất thời, hay là không có ý tiến đến sự lâu dài của hôn nhân.

    Ở đại vận và lưu niên, dĩ nhiên sẽ có ý hướng tình cảm nổi lên, nhưng còn tùy các cảnh tình khác mà luận hôn nhân hay không. Đây cũng là tùy câu hỏi chân thật của chính bản thân chúng ta.

    Nữ: tướng mạo rất đẹp, quan tinh Tân tàng trong Sửu Tuất, cung phu thê có Hồng Diễm Đào Hoa, chồng cũng là người lịch thiệp thanh tú

    năm tháng ngày giờ
    Quí Nhâm Giáp Bính
    Sửu Tuất Ngọ Dần
    kỉ, quí, tân mậu, tân, đinh đinh, kỉ giáp, bính, mậu
    Hồng diễm, Đào hoa

    Nếu Quan tinh hoặc Đào Hoa, Hồng Diễm ở 3 trụ đầu đều là tiêu chí kết hôn sớm. Ở trụ giờ là quá muộn nên càng suy kém, không còn tính chất tốt nữa. Giải thích đơn giản là 2 tinh này thuộc về nhan sắc, nên không thể hoàn toàn mĩ mãn ở thời gian đã quá 45 tuổi (mỗi trụ tính 15 năm).

    ...d- Cô Thần Quả Tú: cô quả là ám chỉ tình trạng cô đơn, sinh ly tử biệt trong tình cảm và hôn nhân

    Địa chi trụ năm/ngày Hợi Sửu Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất
    Cô thần tại Dần Dần Dần Tị Tị Tị Thân Thân Thân Hợi Hợi Hợi
    Quả tú tại Tuất Tuất Tuất Sửu Sửu Sửu Thìn Thìn Thìn Mùi Mùi Mùi

    (còn tiếp)
    bi - trí - dũng


  2. #2
    Thành viên

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    2,224
    Tóm tắt nội dung trên, những điểm sau đây cần chú ý khi luận hôn nhân bất thuận lợi:

    1. Tài tinh, Quan tinh suy nhược hoặc gặp Xung
    2. Khuyết Tài, Quan trong tứ trụ (và cung mệnh)
    3. Tài, Quan bị Tỉ Kiếp hợp, hoặc nhật chủ bị tranh hợp
    4. Thiên ấn quá mạnh và là kị thần, hoặc Thương quan vượng chế ngự Quan
    5. Hoa Cái, Cô Thần, Quả Tú vượng thịnh


    Thời gian kết hôn bình thường từ tuổi 20 đến 35. Trước hoặc sau thời gian này là sớm hay muộn. Nói đến điều này là cách xác định tuổi của các trụ. Đời người bình thường trung bình được 60 năm, vậy có thể chia ra mỗi trụ 15 năm. Hoặc có thể tính:

    năm tháng ngày giờ
    1-17 18-34 35-51 52 trở đi

    Ở từng trụ, chúng ta xác định các yếu tố đã nói trên để nhận định kết hôn có thể sớm hay muộn. Như 1 thí dụ nữ đã nêu, Quan tinh, sao Đào hoa, Hồng diễm tọa ở 1 trong 3 trụ đầu là có thể kết hôn sớm (ưu tiên cung phu thê). Nếu Tài Quan suy nhược ở trụ giờ, lại gặp Cô Thần Quả Tú, có thể nhận định không kết hôn hoặc kết hôn muộn.

    Tài, Quan hợp với trụ đại vận hoặc lưu niên cũng khả dĩ tạo ra quan hệ tình cảm hay hôn nhân, đặc biệt xác định điều này cho những tứ trụ khuyết hẳn Tài, Quan.

    (Thường nghe nói, không phải tứ trụ khuyết hành gì thì bổ sung ngay hành đó làm dụng thần. Điều này không thể đơn giản như vậy, vì còn phải phân tích dụng kị thần của tứ trụ. Thế nhưng, về tâm lý và nhất là để hiểu Tài và Quan là 2 mặt tinh thần không thể thiếu được, nên vẫn phải xét yếu tố Tài Quan xuất hiện ở đại vận, lưu niên là một điều không thể bỏ qua.

    Bởi vì nếu khuyết Tài mà tứ trụ kị Tài, người này chỉ có thể biểu lộ sự tránh né tình cảm hoặc không có hấp lực đối với đối tượng, người khác vẫn có thể tiến đến hôn nhân, nhưng tình cảm càng về hậu vận càng phai nhạt. Tài còn là nguồn lộc nuôi sống chúng ta, nên luận "kị Tài" cũng không phải là hoàn toàn không làm ra tiền, mà rất có thể biểu lộ ở tính cách không xem trọng đồng tiền.

    Đối với Quan tinh ở nữ mệnh cũng thế. Nếu khuyết hẳn Quan tinh ở bát tự thuộc ngoại cách, hoặc như Nhuận hạ cách là kị Thổ, ta cũng không thấy những người này đều không kết hôn! Ngược lại, về thực tế, đôi khi kết hợp với sự bổ sung Thổ Quan tinh này mà tự chế ngự hay điều hòa bát tự rất tốt.

    Các cách cục của Tử Bình ở phần nhập môn vì vậy chỉ xác định ở hình thể ban đầu là chủ yếu. Phần vận dụng thực tế là Ngũ Hành Âm Dương đều cần phải có suy tưởng sâu sắc hơn. Khó mà nói hết được, cũng bởi vì từng bát tự với điều kiện sinh trưởng ở môi trường con ngưòi sinh sống làm cho sự hiểu biết của chính mình và đối nhân xử thế đều khác nhau.

    Chính vì sự tinh tế này mà có những trường phái bất luận Cách Cục, bất luận dụng hỉ kị thần, chỉ luận diễn tiến sự việc thông qua các biểu lộ của thập thần, tương tác xung khắc hợp trong vận hạn để giải đoán số mệnh.)
    bi - trí - dũng


  3. #3
    Thành viên

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    2,224
    Những điều kiện ở trên khi kết hợp luận tứ trụ, chúng ta phải linh hoạt sử dụng, nghĩa là không phải có đủ các yếu tố tốt mới thành tốt, hoặc toàn là tiêu chí hung thì gặp toàn hung. Tử Bình có phương cách hay gọi là "Bịnh Dược Pháp", nôm na như là bịnh có thuốc chữa đúng vậy.

    Hãy quan sát tứ trụ sau đây và nhìn nhận vì sao đương số lại kết hôn đúng tuổi thành niên trong khi cung phu thê bị lệnh tháng xung.

    Nam, sinh 1.4.1965, giờ Tí, cung mệnh Mậu Dần

    Tỉ Thiên tài Thương
    Ất Kỉ Ất Bính
    Tị Mão Dậu
    bính, mậu, canh
    Mộc dục

    - Không có Đào Hoa, Hồng Diễm
    - Không có Cô Thần, Quả Tú
    - Trụ năm gặp Mộc Dục
    - Mão Dậu xung
    - Kỉ thiên Tài thấu
    - Mậu chính tài tàng trong Tị, thấu xuất ở cung mệnh

    Như thế điểm yếu là xung Mão Dậu, nhưng có Tài tinh ở 2 trụ đầu, lại thêm Mộc Dục, suy được việc kết hôn sớm.

    Vận Đinh Sửu (19-28), năm 1988 Mậu Thìn, 24 tuổi đã lấy vợ. Những tiêu chí sau đây tạo nên ý định và đi tới hôn nhân:
    - Sửu ở vận tàng Kỉ thiên tài
    - Mậu lưu niên thấu xuất chính tài
    - Đinh hỏa ở vận tiếp sức cho Thổ tài
    - Tị Dậu Sửu tam hợp, phá được Mão Dậu xung
    - Tam hợp Kim chính là Tân kim ở cung phu thê
    - Thìn lưu niên hợp Tí trụ giờ

    Bài này chúng ta lưu tâm đến trọng điểm hôn nhân, tình cảm, có hay không? sớm hay muộn? hời hợt hay sâu đậm? Như thí dụ trên chỉ cho thấy thời điểm thuận tiện cho đương số quyết định hôn nhân. Thời gian về sau, hôn nhân bền hay không vẫn là do cung phu thê, chất lượng của Tài xác định. Đương sự này có tượng Mão Dậu xung tức là sẽ có lúc gập ghềnh với đời sống vợ chồng, dù là do ngoại cảnh (Dậu kim là thất sát) hay do tự bản thân mình (Mão là Ất chính bản thân nhật chủ).
    bi - trí - dũng

  4. Cảm ơn bởi:


  5. #4
    Thành viên

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    2,224
    Luận tình cảm, hôn nhân, trong Uyên Hải Tử Bình có câu thơ:

    mộc hổ sương vô tế > Giáp Dần
    kim trư khởi hữu lang > Tân Hợi
    xích hoàng mã độc ngọa > Bính Ngọ, Mậu Ngọ
    hắc thử thủ không phòng > Nhâm Tí
    mộc hỏa phùng xà hỏa bất trường > Ất Tị, Đinh Tị
    kim trư hà tất cường xương cuồng > Tân Hợi
    thổ hầu mộc hổ phu hà tại > Mậu Thân, Giáp Dần
    thì đối cô loan vũ nhất tràng
    Trên đây như vậy là nói đến Cô Loan Sát, 1 trong những thần sát bị cho là sao hung đối với nữ mệnh. Phạm phải Cô Loan thì khó mà hưởng hạnh phúc lâu dài.

    Phân tích theo nhật chủ và can tàng, cung SVTT, chúng ta thấy hầu như là "thương quan gặp quan" hoặc "kiếp tài phá tài", ngũ hành của phu tinh tọa tuyệt địa, nên bị cho rằng chồng không có phúc.

    Xét các cặp can chi:

    Giáp Dần > Dần là tuyệt địa của Canh, thai địa của Tân (quan sát tinh của Giáp)
    Tân Hợi > Hợi là nơi Bính hỏa tuyệt, Đinh hỏa thai
    Ất Tị > trong Tị tàng Bính (thương quan) khắc Canh (quan), Ất tọa mộc dục ở Tị tức cung phu tọa bại địa
    Bính Ngọ > Đinh trong Ngọ là dương nhận của Bính, tính tình quá cương liệt, tự cao tự đại, "bất thính phu ngôn"

    ... các cặp can chi khác tương tự như thế...


    Cô Loan Sát còn gọi là "Thân Ngâm Sát", ý nghĩa về tình dục mạnh, nếu háo tiết vô chế thì tổn thọ.

    Vậy gặp phải Cô Loan Sát chúng ta có từ chối không đi đến hôn nhân không? Dĩ nhiên, cổ nhân luận nữ mệnh luôn luôn nên "nhược" mới gọi là "thuận", ngược lại là không được tốt đẹp cho hôn nhân, mà cụ thể có lợi cho chồng con. Thế nhưng, may mắn là cổ nhân cũng không khăng khăng loại trừ những trụ phạm Cô Loan Sát như vậy, mà vẫn cho rằng có cách hóa giải sao cực hung này.

    Điều kiện là trong tứ trụ (và cung mệnh) phải gặp: Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiên Ất và Văn Xương.

    Sao hóa giải
    Thiên đức, Nguyệt đức Thiên ất, Văn Xương
    Chi
    tháng
    Thiên Đức Nguyệt Đức Can
    ngày
    Thiên ất Văn Xương
    Dần Đinh Bính Giáp Sửu
    Mùi
    Tị
    Mão Thân Giáp Ất
    Thân
    Ngọ
    Thìn Nhâm Nhâm Bính Hợi
    Dậu
    Thân
    Tị Tân Canh Đinh Hợi
    Dậu
    Dậu
    Ngọ Hợi Bính Mậu Sửu
    Mùi
    Thân
    Mùi Giáp Giáp Kỉ
    Thân
    Dậu
    Thân Quí Nhâm Canh Sửu
    Mùi
    Hợi
    Dậu Dần Canh Tân Ngọ
    Dần
    Tuất Bính Bính Nhâm Mão
    Tị
    Dần
    Hợi Ất Giáp Quí Mão
    Tị
    Mão
    Tị Nhâm
    Sửu Canh Canh



    Thí dụ 1 tứ trụ nữ (sinh 8.10.1979), cung mệnh Ất Sửu (Sửu là Thiên Ất của Mậu):

    năm tháng ngày giờ
    Kỉ - Kiếp Quí - tài Mậu
    Kỉ - Kiếp
    Mùi Dậu Thân
    Mùi
    Thiên Ất Đào Hoa
    Cô Loan Sát
    Văn Xương
    Thiên Ất
    suy tử bệnh suy

    Quan tinh trong trụ là Ất tàng dư khí ở Mùi, Thương quan Tân kim là nguyệt lệnh, cung phu thê phạm Cô Loan Sát, nếu luận "kiếp tài phá tài" thì quan tinh không được tài sinh, nhưng thực tế hôn nhân vẫn bình hòa, vợ chồng tương đắc, không xảy ra sự cố gì.

    Luận hóa giải: thiên can có hợp, tứ trụ không có Xung, Thiên Ất và Văn Xương như thế không bị xung phá nên có tác dụng giải được Cô Loan Sát.

    Tóm lại, tuy không cần nói là "có hóa giải", nhưng các bảng thần sát đều có tương hỗ nhau, tức là 1 sao hung kèm với 1 sao cát thì lấy cát chế hung, miễn là sao cát không bị khắc chế mất tác dụng hoặc tọa Không Vong.

    Vì thế khi gặp thần sát tốt hay thần sát hung, chưa vội mừng hay sợ, hãy quan sát kỹ lực mạnh yếu của thần sát đó mà khả dĩ nhận xét được kết luận.
    bi - trí - dũng


  6. #5
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Jun 2012
    Bài viết
    74
    1. Tài tinh, Quan tinh suy nhược hoặc gặp Xung
    2. Khuyết Tài, Quan trong tứ trụ (và cung mệnh)
    3. Tài, Quan bị Tỉ Kiếp hợp, hoặc nhật chủ bị tranh hợp
    4. Thiên ấn quá mạnh và là kị thần, hoặc Thương quan vượng chế ngự Quan
    5. Hoa Cái, Cô Thần, Quả Tú vượng thịnh
    Trong tứ trụ có những điều kiện trên, liệu Tài, Quan thấu ra ở đại vận thì có thay đổi không?

    nam sinh 23.11.1971: Tân Hợi, Kỉ Hợi, Nhâm Tí, Nhâm Tí (cung mệnh Giáp Ngọ)
    - Tài tinh là Bính Đinh thiếu, thiếu Tài là không có tình cảm với người khác phái
    - nhưng có Hàm Trì, Hồng Loan trụ ngày, giờ >>> hơi bị trễ, trong khi ở Hợi là tọa Vong Thần gặp Lộc
    - vận 16 Đinh Dậu, Đinh hợp Nhâm tức Chính Tài hợp
    - vận 26 Bính Thân, Bính hợp Tân cũng tức là Thiên Tài hợp
    >>> hợp này là hợp trói, hợp mất dạng vì địa chi là Kim không hỗ trợ, cũng như trong bát tự không có Tài, khi thấy Tài thì không có tình cảm lộ ra nào... Đến giờ vẫn độc thân.

    Chứng tỏ khi Tài tinh kiếm khuyết thì sự hấp dẫn đồng cảm ái lực giảm thiểu hay biến mất! Gặp vận không hỗ trợ thì không có thay đổi gì.

    Hay trụ của đức Đạt Lai Lạt Ma, 6.7.1935: Ất Hợi, Nhâm Ngọ, Quí Mùi, Giáp Dần (cung mệnh Ất Dậu)
    - Tài tinh là Hỏa tọa trụ tháng Ngọ, tàng trong Dần, Mùi
    - không có Đào hoa, hồng loan, cô thần quả tú
    - nhưng tứ trụ thiếu Ấn là Canh Tân
    - trong Mùi cung vợ chồng tọa Đinh là Tài tinh nhập mộ
    >>> điểm này chắc là trọng yếu nhất, nhưng tới vận Đinh Sửu là đã 50 tuổi, Nhâm Đinh hợp và Sửu xung Mùi vô tác dụng với hôn nhân, vả lại Đạt Lai Lạt Ma đã được thừa nhận từ năm 2 tuổi.

  7. #6
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Jun 2012
    Bài viết
    74
    Có vài mệnh "cô đơn", để đây giải từ từ... Ai thích thì bàn luận, diễn đàn im ắng quá...

    1. nữ, sinh 19.6.1958, mậu tuất - mậu ngọ - đinh mão - đinh mùi

    2. nữ, sinh 3.12.1972, nhâm tí - tân hợi - mậu thìn - đinh tị

    3. nữ, sinh 3.10.1961, tân dậu - đinh dậu - kỉ tị - nhâm thân

  8. #7
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Jun 2012
    Bài viết
    74
    3. Vai trò của các thập thần gây nên nhiều vấn đề khác biệt về tình cảm hôn nhân:
    - Tỉ Kiếp nhiều hợp Tài/Quan
    - Tượng tranh hợp
    -
    Quan suy nhược hoặc khuyết hẳn Quan tinh trong tứ trụ, gặp Thương quan vượng

    ....a- Chồng/vợ có lực hấp dẫn đối tượng khác hoặc ngoại tình
    ....b- Trước khi kết hôn, chồng/vợ đã có tình cảm sâu đậm với đối tượng khác hay đã ly dị
    ....c- Quan hệ tình cảm của chính mình đối với chồng/vợ hời hợt, thậm chí lợi dụng nhau

    Thí dụ 2 Quí tranh hợp 1 Mậu, hoặc 2 Canh tranh hợp 1 Ất:

    năm tháng ngày giờ
    Quí Mậu Quí


    năm tháng ngày giờ
    Canh Ất Canh
    Ngoài ý nói trên, tượng tranh hợp còn cho thấy thời gian kết hôn chậm trễ, hoặc tình cảm không chuyên, do dự, có thể còn là đồng tính.
    Thời gian kết hôn thông thường mà gọi là sớm (đến 30 tuổi) thì trong trụ có những điểm:
    - Tài hay Quan trong trụ năm, tháng
    - Có Đào Hoa, Hồng Loan trong 2 trụ đầu (không bị xung, phá)

    Nếu không có Tài Quan thì sao? Thiệt ra nhật chủ vẫn kết hôn, có tình cảm luyến ái, nhưng lại đánh giá các khía cạnh khác của đời sống cao hơn, như nghề nghiệp. Khi có lựa chọn, thì hôn nhân là thứ yếu, hoặc hy sinh tình cảm để đạt điều gì khác. Tác dụng này còn thấy ở những mệnh Tài Quan suy nhược hay bị xung phá. Hạnh phúc chắc hẳn là kém.

    Mệnh có Tài Quan thiếu hay nhược:
    - xấu nhất là không thấy ở vận hạn mà còn gặp cô thần quả tú
    - thứ nhì là gặp ở vận hạn nhưng bị tranh hợp hay bị xung, mệnh chủ có thể gặp quan hệ tình cảm, nhưng dừng lại tại chỗ!
    - Tài Quan thấu ra ở khoảng 20 tuổi, khả năng quyết định hôn nhân sớm, không thì trễ hơn; nói cách khác, nghĩa là thấu ra vận hạn nào thì thời gian đó có thể kết hôn

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •