Chào mừng đến với Tử Bình diệu dụng.
Trang 4 của 4 Đầu tiênĐầu tiên ... 234
Kết quả 31 đến 37 của 37
  1. #31
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,012
    Chính văn:
    Cách cách suy tường,
    Dĩ sát vi trọng,
    Hóa sát vi quyền,
    Hà sầu tổn dụng.


    Đại lục giải thích:
    Cách cục có nhiều loại, có đôi khi một bát tự lại có 2 cách, 3 cách, vậy trong đó loại cách cục nào quan trọng nhất chứ? Là Sát Quan cách. Sát Quan cách cùng lúc tồn tại, thì lại lấy Sát cách làm trọng. Tại sao chứ? Bởi vì Thất Sát là vật công thân, mệnh mang Thất Sát, thì giống như nằm bên cạnh mãnh hổ, nếu đầu tiên không lấy chế phục, thì có lúc mà mệnh khó giữ được, thì sao mà có tâm trí để suy nghĩ nói chuyện danh lợi hôn nhân chứ? Cho nên “Cách cách suy tường, là cần phải lấy Sát cách làm trọng là đầu tiên. Thứ đến là Chính Quan cách, bởi vì Chính Quan là đại biểu cho danh dự, địa vị, quyền lực, chế độ cùng luật pháp. Chỉ cần mỗi con người sinh hoạt ở trong quần thể xã hội, dù ở bất cứ nơi nào thì cũng cùng ảnh hưởng bởi sự quản thúc của nhà nước. Xúc phạm ở chỗ Quan đại biểu cho sự vật, thì phải gặp đến sự công kích của quần thể xã hội, nhẹ thì chịu xã hội cưỡng bức, nặng thị phải bị quần thể tước đoạt tài sản, có khi đến cả sinh mệnh. Bởi vậy, Chính Quan tính quan trọng chỉ đứng sau ở Thất Sát.
    Cho nên 《 Uyên Hải Tử Bình • Bảo pháp nhị 》có nói: "Phàm cách đương dĩ Sát Quan ngôn chi." 《 Tam Mệnh thông hội • Luận Chính Quan 》nói: "Hựu viết quan tinh bất tất chuyên nê vu nguyệt lệnh chi thần, hoặc nguyệt can, hoặc niên nhật thời chi can, chỉ nhất xứ hữu, bất tằng tổn thương, giai khả thủ dụng" ( Lại nói Quan tinh không nên chấp nê ở thần nguyệt lệnh, hoặc can tháng, hoặc can năm , ngày, giờ, chỉ một nơi có, không bị tổn thương, đều có thể lấy làm dụng). Ý là muốn nói, phàm bát tự chỉ cần có Sát Quan thành cách, bất kể đúng hay không đúng là nguyệt lệnh dụng thần, đều cần phải trước tiên lấy Sát Quan cách này. Chỉ cần năm, ngày, giờ có Sát Quan thành cách, thì không sợ tổn hại nguyệt lệnh dụng thần, ý chỗ này cũng là "Hóa sát vi quyền, hà sầu tổn dụng" .
    Có mệnh sư ôm lấy quyết định nguyệt lệnh dụng thần mà không hiểu biến thông, một mặt bám chặc lấy ở thiên can nắm quyền ti sự , hoặc chỗ vấn đề gọi là "Bình hành", "Điều hậu", "Thông quan" để lấy "Dụng thần", không hiểu đạo “Cách cách suy tường” lấy Sát Quan là phương pháp đầu tiên để thủ cách, dạng này sẽ tồn tại xuất hiện một loại bát tự ở trên mà suy đoán sai lầm.

    Như mệnh Ngô Đại Đình, sinh vào ngày 8, tháng 12, năm 1824, giờ Thìn, mệnh thức là : Giáp Thân/ Đinh Sửu/ Bính Dần/ Nhâm Thìn. 《 Tam Mệnh thông hội • Nhân Nguyên dụng sự ca 》nói: "Sửu cung cửu nhật quý chi dư, trừ khử tam tân giai thuộc kỷ." Ý tức là tháng Sửu trước 9 ngày là Quý thủy dụng sự, tiếp theo 3 ngày là Tân kim dụng sự, còn lại 18 ngày là Kỷ thổ dụng sự. Tra 《 Vạn niên lịch 》có thể biết, năm này ngày 17, tháng 11 âm lịch là giao tiết Tiểu Hàn, tới tháng 12, ngày 8, cộng lại là 21 ngày, gặp lúc Kỷ thổ dụng sự, cũng tức là Thương Quan dụng sự. Nếu như chúng ta chấp nhất lấy Kỷ thổ Thương quan làm dụng thần, như vậy, có thể lấy cách cục chỉ có Thương quan phối Ấn cách. Xem lý thuyết, mệnh chủ nếu đến Đông Bắc phương thủy mộc vận mới có thể phát phúc. Nhưng mà, mệnh chủ lại ở Tị vận, 42 tuổi năm Ất Sửu phụng chỉ phép vua tới trông coi nghề làm muối ở Phúc Kiến, chính thức bước vào con đường làm quan. Vào vận Nhâm Ngọ lúc 43 tuổi năm Bính Dần thăng chức Tuần phủ Đài Loan,cùng được phong tước Nhị phẩm. Mệnh chủ ở trong vận Nhâm Ngọ một đường đảm đương chức quyền, thẳng đến 53 tuổi vào vận Quý sau đó qua đời. Thử nghĩ, Ngọ vận chính là Ấn tinh tử địa, Dần Ngọ hợp mà hóa Ấn thành Kiếp, mệnh chủ tại sao có thể có địa vị là Tuần phủ Đài Loan chứ? Chỗ này là dụng Thương quan luận cách mà thật sự là không có phép giải thíc. Thực ra, mệnh này tháng thấu Nhâm Sát, tuy có thể dụng Giáp Ấn hóa Sát, cũng có thể lấy Đinh hỏa hợp Sát, vận Nhâm Ngọ chính là Đinh hỏa đất đắc Lộc, hợp Sát có lực, cho nên mà mệnh chủ mới có thể giữ địa vị làm quan lớn trấn giữ ở biên cương.
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  2. Cảm ơn bởi:


  3. #32
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,012
    Lại như Từ Nhạc Ngô chỗ《 Tử Bình túy ngôn • Yểu thương mệnh 》đưa ra ví dụ một nam mệnh: Đinh Dậu/ Nhâm Dần/ Giáp Dần/ Ất Sửu.
    Từ thị giải thích nói: "Sách nói rằng, hỏa mộc thiết kị mai căn. Giáp Dần, là hoạt mộc vậy. Sinh ở đầu mùa Xuân, mộc còn non mừng có hỏa ấm là vinh, kị kim đến là địch làm tổn thương. Năm và giờ có Dậu Sửu hội cục, may mắn được Đinh hỏa xuất can để cứu. Cho nên sinh ở gia đình phú quý. Không như Đinh Nhâm hợp khử dụng thần, vận hành Tân Sửu, lúc nhỏ nhiều bệnh. Vận Canh Tý, năm Canh Thân chết, là do mộc bị kim thương vậy". Ý của ông ấy là, mệnh này mộc còn non cho nên kị kim mà hỉ hỏa, may mắn có Đinh hỏa khắc Dậu kim, mới có thể sinh ở gia đình phú quý. Vận Canh Tý năm Canh Thân chết yểu, là do mộc bị kim khắc phá hại. Thực ra, nếu xem theo cách này thì 10 phần đều sai lầm. Tử bình thủ cách, không luận điều hậu, chỉ lấy Quan Sát cùng với nguyệt lệnh thần ti sự làm dụng định cách. Mệnh này nguyệt lệnh thấu ra Đinh hỏa, tức là dụng thần, ý là không do ở điều hậu vậy. Đinh Nhâm hợp mà hóa mộc, dụng thần hóa hư, không thể lập thành cách. Lại xem năm và giờ có Dậu Sửu hợp Sát chế Kiếp, cách thành Nguyệt Kiếp dụng Sát cách.
    Ở đoạn văn phía trên của《 Tứ Ngôn độc bộ 》có nói: "Nguyệt lệnh kiến lộc, bất trụ tổ ốc, nhất kiến tài quan, tự nhiên phát phúc." Ý tức là Nguyệt lệnh là Tỉ Kiếp thì không có dụng thần, cho nên mà khó có được di nghiệp tổ tông. Nhưng mà có thấy Tài Quan chế Kiếp, tức có thể hưởng phúc tổ tông. Mệnh này chính là do có chi năm là Dậu Quan chế Kiếp, cho nên mà mới sinh ở gia đình phú quý. Lý này là Đinh Nhâm hợp, vừa đúng lúc do Nhâm thủy hợp Đinh thành mộc, Đinh hỏa không thể khắc chế Dậu kim, thì mới được lấy bảo toàn Nguyệt Kiếp dụng Sát cách. Nhưng mà Từ thị lại nói trước là "Không như Đinh Nhâm hợp khử dụng thần", tiếp theo lại tự mâu thuẫn với chỗ nói : "May mắn được Đinh hỏa xuất ra can để cứu giúp", tựa như là Nhâm thủy cũng không có hợp khử mất cái gọi là "Dụng thần" Đinh hỏa vậy. Tới vận Tân Sửu tại sao mệnh chủ"Lúc nhỏ nhiều bệnh", không phải là nguyên nhân do"Đinh nhâm hợp khử dụng thần", mà là Đinh Nhâm hợp mộc hình thành Tỉ Kiếp kháng lại thế Quan tinh, ở cách có tổn hại, do đó nhiều bệnh. Mệnh chủ ở vận Canh Tý năm Canh Thân chết yểu, cũng khôn gphải do "Mộc bị kim thương", mà là kim bị chìm ở đất thủy, Thân Tý hợp thủy, tướng thần do bị hóa hư. Là kim bị thủy mộc tổn hại, mà không phải là mộc bị kim hại.

    Mệnh Trần Hữu Niên: Tân Mão/ Canh Dần/ Giáp Tý/ Giáp Tuất. Xem phương pháp Từ thị luận mệnh, mệnh này cũng thuộc mộc non hỉ hỏa kị kim. Nhưng mà, mệnh chủ 31 tuổi năm Nhâm Tuất được Tiến sĩ, nhậm chức chủ sự Hình Bộ. Vận Bính Tuất, 42 tuổi năm Quý Dậu do phải gặp tổn thất ở triều đình tranh giành, không nói rõ thất bại mà dẫn đến bệnh phải từ chức. Thẳng đến vận Ất Dậu, 53 tuổi, năm Ất Dậu phục hồi lại chức, một đường quan chức liên tiếp thăng lên, tới 62 tuổi năm Quý Tị nhậm chứ Lại Bộ thượng thư. Sự thực chứng minh, Từ thị nói mộc non hỉ hỏa kị kim là không đủ để tin, bởi vì mệnh này cũng không phải do ở vận hỏa vượng mà là ở vận kim vượng, thăng chức liên tục. Lấy Tử Bình cách cục luận, mệnh này thì thuộc ở tiêu chuẩn Nguyệt Kiếp dụng Sát cách. Kiếp nặng Sát nhẹ, hỉ ở đất Sát vượng, do đó đắc ý ở Tây phương vận. Có thể thấy, luận mệnh cần lấy cách cục làm chủ, lấy Sát Quan là ưu tiên đứng đầu, không cần suy nghĩ nói đến mộc nộn ( non) hỉ hỏa kị kim gì cả.
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  4. Cảm ơn bởi:


  5. #33
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,012
    Chính văn:
    Sát bất ly Ấn,
    Ấn bất ly Sát,
    Sát Ấn tương sinh,
    Công danh hiển đạt.


    Đại lục bình chú:
    Thất Sát vi hung thần, tốt ở tấn công thân, tất cần có chế hóa. Thất Sát không có chế, nhẹ thì không quý, nặng thì không yểu cũng bần. Sát là nghề võ, Ấn là văn hoa, lấy Ấn hóa Sát, thì có thể hóa cương thành nhu, hóa ác thành thiện, khiến cho người có cả văn lẫn võ, công danh hiển đạt. Có Sát không có Ấn thiếu tài văn chương, có Ấn mà không có Sát thì thiếu uy phong. Bởi vậy, Thất Sát hỉ nhất là có Ấn hóa, cho nên viết Sát bất ly Ấn, Ấn bất ly Sát. Tuy nhiên, ngoại trừ lấy Ấn hóa Sát, vẫn còn có lấy Thực Thương chế Sát, lấy Kiếp Nhận hợp Sát, nhưng mà hóa Sát là lấy đức báo oán, hóa địch thành bạn bè; còn chế Sát là Giáng long phục hổ, là chỗ ta sử dụng; hợp Sát thì là mượn hắn để kiềm chế đối thủ, đều không thể thu kết quả hóa Sát hoàn mỹ. Cho nên mệnh thư có nói một thuyết là: "Hợp Sát bất như chế Sát, chế Sát bất như hóa Sát".

    Nam mệnh 1: Mậu Tý/ Giáp Tý/ Mậu Tý/ Giáp Dần. Can thấu hai Sát, không có Ấn hóa Thực chế, nếu lấy Tòng Sát cách luận, thì đại vận là Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tị, một mạch không phải là hỏa tức là thổ, Tòng Sát cách cũng không thành. Cho nên mệnh chủ cả đời bần khốn dị thường, bà già con nít đều là bị bệnh tâm thần.

    Nam mệnh 2: Bính Dần/ Canh Dần/ Canh Tuất/ Bính Tuất. Nguyệt lệnh thấu Sát, gặp Sát xem Ấn, chỉ có chi giờ là Tuất Ấn có thể lấy hóa Sát, can năm Bính Sát không có chế, là mệnh không yểu cũng bần. Vận đầu Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tị, có Tân kim hợp Sát, Nhâm Quý thủy chế Sát, mệnh chủ một mạch thuận lợi toại nguyện, học nghiệp có thành. Vận Giáp Ngọ, Sát đến vượng địa, can Thất Sát không có chế mà lại công thân, mệnh chủ đôi mắt bị mù, theo chỗ này liền ở trong hắc ám vô tận đuổi quãng đời còn lại.

    Nam mệnh 3: Bính Tuất/ Tân Mão/ Canh Dần/ Tân Tị. Bát tự một khối Tài Sát, lấy chi năm Tuất có Ấn hóa Sát, thì Mão mộc khắc Tuất thổ, phá hoại Ấn tinh, phá Sát Ấn cách, không có quý khí vậy. Chỉ có lấy Tân Kiếp hợp Sát, nhưng mà gặp đại vận Nam phương, Tân kim thất địa, không có lực hợp Sát, cách cục quá thấp. Mệnh chủ sau khi tốt nghiệp tiểu học thì lang bạt giang hồ, ở trọn trong vận Nam phương không có gì pha lẫn để giúp danh đường, kinh thương thì lấy mắc nợ vốn không còn, hôn nhân thì lấy kết thúc ly dị. Sau vào vận Tây phương, Tân kim đắc địa, hợp Sát có lực, mệnh chủ kinh doanh buôn bán các loại bất động sản mà phát tài.

    Nam mệnh 4: Nhâm Ngọ/ Nhâm Dần/ Canh Tuất/ Nhâm Ngọ. Địa chi tam hội Sát cục, chỉ là do Sát không thấu can, lại còn có Nhâm thủy chế Sát, cho nên Tuất thổ không thể hóa hỏa, có thể hóa Sát ở địa chi, lại kiêm dụng thiên can Thực Thương chế Sát. Sơ vận Quý Mão, Giáp Thìn, xung khắc Tuất Ấn, mệnh chủ xuất thân bần khốn, 18 tuổi năm Canh Tý phụ thân cùng chị gái bị chết đói do ở tội ác trong khi vận động "Đại dược tiến". Sau vận Ất Tị, Sát vượng sinh Ấn, mệnh chủ dần dần quật khởi, từ Giáo sư Phổ thông thăng tới Bí thư Huyện ủy. Vận Bính Ngọ, Sát đến vượng địa, Sát Ấn tương sinh, mệnh chủ làm quan thăng Bí Thư Đảng ủy tự trị một Châu, tiến đến thăng lên làm phó Bí thư Tỉnh ủy một tỉnh. Vận Đinh Mùi năm Mậu Dần, mệnh chủ làm quan tới Bí thư Tỉnh ủy. Đúng như chỗ gọi là "Sát Ấn tương sinh, công danh hiển đạt" vậy.
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  6. Cảm ơn bởi:


  7. #34
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,012
    Chính văn:
    Quan Sát trọng phùng,
    Chế phục hữu công,
    Như hành vượng địa,
    Ngộ chi bất hung.


    Đại lục bình chú:
    Tử Bình luận mệnh, quý ở cách cục thanh thuần, tiện ở hỗn tạp. Cho nên 《 Tam Mệnh thông hội • Luận Thiên Quan 》nói: "Ngũ hành gặp chi tháng là Thiên Quan, chỉ có một vị ở địa chi, phần đa thì không tốt. Tứ trụ thuần Sát có chế, định ở địa vị Nhất phẩm, sơ lược thấy một vị Chính Quan, Quan Sát hỗn tạp trái lại là tiện." Ngoại trừ các loại Tòng Sát, Hóa Khí là cách cục đặc thù, thông thường cách cục bình thường thì không nên có Chính Thiên hỗn tạp, trong đó đặc biệt Quan Sát hỗn tạp là đại kị. Cho nên gặp phải Quan Sát nặng mà hỗn tạp, hỉ nhất là có chữ thanh cách, hoặc Thực Thương, hoặc Kiếp Nhận, hoặc khử Sát lưu Quan, hoặc khử Quan lưu Sát, mệnh đều có thể phát phúc. Sát Quan hỗn tạp chỉ cần có chế, thị không sợ hành đất Sát vượng, Sát càng vượng thì thành tựu càng lớn. Nếu là Sát Quan hỗn tạp không có chữ thanh cách, lại hành đến đất Sát vượng, thì họa hoạn rất nặng, cách cái chết là không xa vậy.

    Nữ mệnh 1: Quý Hợi/ Nhâm Tý/ Đinh Sửu/ Nhâm Dần. Can đầu một khối Quan Sát hỗn tạp, tuy nhiên sớm vận là Giáp Dần, Ất Mão là ấn vận, có thể đủ hóa Sát sinh thân, nhưng mà Quan Sát hỗn tạp là bệnh khó khử, cho nên mệnh chủ xuất thân là bần hàn, chưa tốt nghiệp sơ trung đã bước chân vào xã hội, cho tới nay vẫn làm nữ bồi bàn ( kẻ hầu bàn làm kĩ nữ, xướng ca, mua vui cho khách).

    Nữ mệnh 2: Quý Dậu/ Nhâm Tuất/ Đinh Tị/ Quý Mão. Can đầu cũng là một khối Quan Sát, hỉ Đinh Nhâm hợp nhất, khử Quan lưu Sát, cách cục thì thanh. Cho nên mệnh chủ sau khi kết hôn nhất tâm theo chồng dạy con, không hề tai tiếng, chồng họ Thái rất nhân từ, làm quan tới chức Mật sứ ở trung ương, mệnh chủ được phong làm Quảng Bình Quận phu nhân.

    Nữ mệnh 3: Ất Dậu/ Quý Mùi/ Đinh Dậu/ Nhâm Dần. Nguyệt lệnh thấu Ấn, cách thành Ấn dựa Sát sinh. Đinh Nhâm hợp, khử Quan lưu Sát, cách chính cục thanh. Mệnh chủ sau khi tốt nghiệp cao trung, thì trước sau đều đảm nhận Xã trưởng, rồi Phó trưởng Huyện, Phó bí thư Huyện ủy, thẳng đốn vận Đinh Hợi lúc 38 tuổi năm Quý Hợi đất Sát vượng, thăng nhậm Phó trưởng tự trị một Châu ( cấp bậc chính Sở). Hôn nhân bình ổn, sự nghiệp đắc ý.

    Nữ mệnh 4: Ất Mùi/ Tân Tị/ Mậu Tuất/ Giáp Dần. Quan Sát tương phùng, nhưng mà có Tân kim khử Quan lưu Sát, ở cách là không có tổn hại. Chỗ tiếc là, đại vận trước Nam sau Tây, là Sát tinh ở đất tử tuyệt, cho nên mệnh chủ dù có hôn nhân ổn định, nhưng sinh hoạt lại rất khó khăn. Bản thân mệnh chủ là Đội trưởng Đội phụ nữ Sinh sản, chồng làm phó bí thư chi bộ Đội Sinh sản, vợ chồng cả đời lao động không ngừng, thu nhập lại rất thấp.
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  8. Cảm ơn bởi:


  9. #35
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,012
    Chính văn:
    Thời Sát vô căn,
    Sát vượng thủ quý,
    Thời Sát đa căn,
    Sát vượng bất lợi.


    Đại lục bình chú:
    Gọi là "Thời Sát" tức là trong Tử Bình có "Thời thượng nhất vị quý cách", hay gọi là "Thời thượng nhất vị Độc Sát cách" . 《 Uyên Hải Tử Bình 》nói: "Nói Nhất vị quý là, chỉ có can giờ thấy một vị mới là quý, hoặc nếu năm, tháng, ngày lại có, trái lại là người khổ cực lao dịch vậy. Như trụ giờ có một vị Thất Sát, bản thân cần phải tự vượng, mà ba nơi thì có nhiều chế phục, thì hành vận Thất Sát vượng, hoặc tam hợp đắc địa thì mới phát. Nếu không có chế phục, thì cần phải hành vận chế phục mới phát. Hoặc gặp Sát vượng mà không có chế, thì họa phát sinh vậy". Ý là rất rõ ràng, lại là Thời thượng nhất vị độc Sát cũng cần chế phục, mệnh cục có chế phục thì cần phải hành đến đất Sát vượng, hoặc có vận tam hợp Sát cục, nếu mệnh cục không có chế phục, thì cần phải hành đến vận chế phục. Sợ nhất là Sát nhiều, Sát vượng, lại không có chế phục, thì họa hoạn cùng phát sinh vậy. Nhưng mà 《 Tứ Ngôn độc bộ 》 lý lẽ chỗ này ý lại cũng không nói đến chế phục, chỉ nói Nhất vị độc Sát đến vận Sát vượng thì quý, phần đa Sát đến đất Sát vượng thì không có lợi.
    Chẳng lẽ Nhất vị Độc Sát không có chế phục cũng không thể phát quý ư? Chẳng lẽ phần đa Sát có chế phục cũng bất lợi ư? Chúng ta hãy xem ví dụ thực tế:
    Chỗ《 Uyên Hải Tử Bình 》đưa ra Mệnh Chiêm Thừa Tướng: Nhâm Ngọ/ Canh Tuất/ Giáp Ngọ/ Canh Ngọ. Mệnh này có trụ năm, giờ đều là Sát, nhưng thiên can có Nhâm thủy hóa, địa chi có Ngọ hỏa chế, đại vận Đông phương là Thực Thương vượng địa, thì chế Sát có lực, cho nên mệnh chủ có thể địa vị là Thừa tướng.
    Mệnh Sử Ngụy Vương: Giáp Thân/ Bính Dần/ Ất Mão/ Tân Tị. Tân Sát có Thân Tị hai căn, nhưng có Bính Tị hỏa chế Sát.
    Mệnh Lý Thừa tướng: Kỷ Tị/ Đinh Mão/ Bính Ngọ/ Nhâm Thìn. Tuy chỉ có Thời thượng nhất vị độc Sát, nhưng có Kỷ thổ chế Sát, Đinh hỏa hợp Sát.
    Mệnh Trịnh Thượng thư : Canh Dần/ Nhâm Ngọ/ Mậu Dần/ Giáp Dần. Thời Sát có ba Dần là căn, nhưng nguyệt lệnh có Ngọ hỏa hóa Sát.
    Mệnh Du Thị Lang: Nhâm Thân/ Quý Sửu/ Kỷ Sửu/ Ất Hợi. Thời thượng nhất vị độc Sát, nhưng chi ngày là khố của Thực Thương, là Ôm Thực mà chế Sát.
    Mệnh Lưu Đô Thống: Đinh Hợi/ Ất Mùi/ Ất Tị/ Tân Tị. Tân Sát có hai Tị là căn, nhưng can năm có Đinh Tị hỏa chế Sát.
    Mệnh Tống Thượng Thư: Canh Thìn/ Bính Tuất/ Mậu Tuất/ Giáp Dần. Thời thượng nhất vị độc Sát, nhưng có nguyệt lệnh Bính hỏa hóa Sát.
    Mệnh Phạm Thượng Thư: Tân Tị/ Tân Sửu/ Kỷ Mão/ Ất Hợi. Thời Sát có Mão Hợi hai căn, nhưng trụ năm tháng có Tân kim chế Sát.

    Theo các ví dụ mệnh tường thuật kể ở trên, thời Sát không có luận là căn nhiều hay căn ít, đều cần phải có chế phục mới có thể thành cách. Nếu như không có chế phục thì sao? Chúng ta lại xem tiếp các ví dụ sau:

    Nam mệnh 1: Mậu Tuất/ Kỷ Mùi/ Ất Mão/ Ất Dậu. Thời thượng nhất vị độc Sát, không có chế hóa, vận đến Tây phương đất Sát vượng, mệnh chủ không có đi học, không có công việc ổn định, sinh hoạt bình thường, không có quý khí, lại còn có con chẳng ra gì.
    Nam mệnh 2: Bính Thìn/ Mậu Tuất/ Ất Mão/ Ất Dậu. Thời thượng độc Sát, có căn ở Tuất Dậu, nhưng không có chế hóa, không thể nhập cách, cho nên mệnh chủ là kẻ nhân sĩ chôn vùi trí tuệ.
    Nam mệnh 3: Mậu Tý/ Kỷ Mùi/ Giáp Tý/ Canh Ngọ. Thời Sát vô căn, vận hành Tây phương kim địa Sát vượng, mệnh chủ lúc còn nhỏ bệnh hoạn về viêm phổi nghiêm trọng, cả đời không hết bệnh. Vận Canh Thân, năm Giáp Ngọ, 6 tuổi có tang mẹ. Mệnh chủ học nghiệp không thành, cuối cùng bản thân chỉ làm nghề nông. Vận Giáp Tý sinh hoạt kham khổ không nói hết. Tại sao mệnh Thời Sát vô căn đến đất Sát vượng mà không quý trái lại là tiện chứ? Nguyên nhân là do ở Tý Ngọ xung, lại thêm đại vận đến phương Tây, Ngọ hỏa đến đất tử địa, Canh Sát không có chế mà phá cách vậy. Canh kim phá cách, cho nên bệnh phổi khó khỏi.
    Nam mệnh 4: Bính Thân/ Giáp Ngọ/ Ất Mão/ Ất Dậu. Thời Sát có hai căn Thân Dậu, nhưng có nguyệt lệnh Ngọ hỏa chế phục, chỉ tiếc là mở bước đại vận là Ất Mùi, Ngọ Mùi hợp thì Thất Sát không có chế, mộc hỏa đều bị thương, khiến cho mệnh chủ đôi mắt bị mù. Sau vận hành Tây phương, Ngọ hỏa tử địa, không có lực chế Sát, mệnh chủ cùng người vợ mù lòa lấy nghề xoa bóp để mưu sinh, sinh hoạt 10 phần là bần khốn, không có con.
    Nam mệnh 5: Nhâm Ngọ/ Ất Tị/ Canh Tuất/ Tân Tị. Thời Sát đều có căn ở trụ năm, tháng, ngày, chỗ mệnh chủ gọi là "Tân khổ lao dịch chi nhân" ( người lao động vất vả) ư? Không phải vậy. Mệnh chủ là cây Dương thụ của xóm làng, sau khi tốt nghiệp trường quân đội của Hoàng gia, đã thông qua nhiều lần đảm nhận chức vụ quan trọng trong quân giới, sau đó đảm nhận chức Tổng trưởng Hải quân, Chủ tịch chính phủ Tỉnh Phúc kiến. Tại sao mệnh Thời Sát đa căn cũng có thể đại quý như vậy chứ? Bởi vì can có Nhâm chế, chi có Tuất hóa, chỉ cần Thất Sát có chế hóa, thì Sát càng nặng mà thành cách càng cao, quý khí càng lớn.

    Từ 5 ví dụ ở trên cho thấy, Thời Sát không luận căn nhiều hay ít, đều cần phải có chế phục, mới có thể thành cách. Có chế không sợ Sát nặng căn nhiều, vẫn phú quý xuất chúng. Chỉ sợ Thất Sát không có chế, không có luận thân cường hay thân nhược, đều thuộc mệnh phá cách. Do đó, 《 Tam Mệnh thông hội • Thời thượng nhất vị quý 》nói: "Thời phùng thất sát bản vô nhi, thử lý nhân gian tử tế suy, tuế nguyệt thời trung như hữu chế, định tri hữu tử quý nhi kỳ" ( Giờ gặp Thất Sát vốn không nhỏ, lý này người đời cần cân nhắc mà suy, trong năm tháng giờ có chế, mà còn xác định là có con quý). Thử nghĩ, Thất Sát vốn là đại biểu con cái, tại sao nói "Thời thượng thất sát bản vô nhi" chứ? Tại sao lại nói "Tuế nguyệt thời trung như hữu chế", thì tất nhiên sẽ sinh quý tử chứ? Đạo lý là rất rõ ràng, thì là không có luận thân cường hay thân nhược, Thời Sát đều là cần có chế, không có chế thì phá cách, cũng không có con cái, có chế thì thành cách, nên sinh quý tử. Tất nhiên, không thể đem Thất Sát chế thái quá, nếu không có con cũng không quý vậy.
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  10. Cảm ơn bởi:


  11. #36
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,012
    Chính văn:
    Bát nguyệt Quan tinh,
    Đại kị Mão Đinh,
    Đinh Mão khắc phá,
    Hữu tình vô tình.


    Đại lục bình chú:
    Lý này lấy Giáp mộc sinh ở tháng Dậu làm ví dụ, thuyết minh cách Chính Quan, gặp xung khắc thì phá cách. Gọi là "Dụng chi chính quan bất khả thương" được. Dậu kim Quan tinh một là sợ Mão xung, hai là sợ Đinh hỏa Thương quan khắc, Quan cách vốn là có tình quý cách, nếu gặp xung khắc thì biến thành vô tình mà phá cách vậy. 《 Uyên Hải Tử Bình • Chính Quan thi quyết 》nói: "Chính khí quan tinh nguyệt thượng suy, vô xung vô phá tối vi kỳ, trung niên tuế vận lai tương trợ, tương tương công hầu tổng khả vi" ( Suy từ can tháng chính khí Quan tinh, không xung không phá đứng đầu hiếm có, trung niên Tuế Vận đến tương trợ, có thể đứng đầu bậc Công Hầu). Ý tức là nguyệt lệnh Quan tinh không phá mà thành cách, thì thành quý mệnh, phá thì không quý vậy.
    Lý này vấn đề là có chi tiết, cho dù Dậu kim Quan tinh ở địa chi, Đinh hỏa Thương quan ở thiên can, thì cần xem đường sinh khắc bình thường, thiên can là Đinh hỏa Thương không tới địa chi Dậu kim, trừ phi là Đinh Dậu loại tổ hợp cùng trụ. Nhưng mà đã từng có ở sách cổ, cổ nhân nói Đinh hỏa, không nhất định đều là chỉ có thiên can, rất nhiều lúc cũng bao quát cả ở địa chi. Ví như địa chi có Ngọ hỏa, tuy nhiên thiên can không thấu Đinh hỏa, nhưng mà trong Ngọ có Đinh hỏa cũng có thể lấy thương khắc Dậu kim Quan tinh vậy. Thậm chí như Tuất thổ, gặp Đinh hỏa cũng có thể thông qua Tuất hại Dậu mà thương khắc Dậu kim Quan tinh. Tất nhiên, nếu như địa chi không có Thương quan khắc Quan, cũng không phải Đinh Dậu loại tổ hợp cùng trụ, như vậy, Đinh hỏa không thể trực tiếp thương khắc địa chi Dậu kim được, nói cách khác chỉ cần đường sinh khắc có ngăn trở, hoặc có chữ giải cứu Dậu kim, Đinh hỏa liền không thể Thương hại Quan mà phá cách.

    Một nam mệnh: Quý Mão/ Tân Dậu/ Giáp Tý/ Kỷ Tị. Mão xung Dậu, nhưng được Tị Dậu hợp mà giải xung, Quan Ấn cách không bị phá. Mệnh chủ sau khi tốt nghiệp đại học thì nhậm chức ở phòng làm việc quản lý thành phố của chính phủ. Vận Đinh Tị dù có thấu xuất Đinh hỏa Thương quan, nhưng có Quý thủy hộ Quan, đường quan lộ mệnh chủ bình thản, không trải qua nguy hiểm, 41 tuổi năm Giáp Thân thăng quan cấp chính xứ.
    Một nữ mệnh: Giáp Thìn/ Quý Dậu/ Giáp Tuất/ Đinh Mão. Tháng 8 Quan tinh, đều thấy Mão Đinh, có đúng hay không liền phá cách chứ? Không có. Bởi vì Mão Tuất hợp, giải cứu Mão Dậu xung cùng Dậu Tuất hại. Đinh hỏa ở can giờ không thể trực tiếp khắc Dậu kim. Cho nên, mệnh chủ sau khi tốt nghiệp trung chuyên liền công tác ở Xí nghiệp quốc doanh, vận Ngọ năm Bính Tý từ Xí nghiệp quốc doanh điều chuyển về phòng ban chính phủ. 34 tuổi gặp năm Mậu Dần, Dần Ngọ Tuất tam hợp Thương quan cục khắc Quan, Mậu Quý hợp mà tổn hại Ấn, phá mất Quan Ấn cách, mệnh chủ bị xung đột với thủ trưởng mà từ chức, lại còn tách sống riêng với chồng, sau đó ly dị.
    Mệnh Hoàng Dĩ Lâm: Đinh Tị/ Kỷ Dậu/ Giáp Tý/ Mậu Thìn. Mặc dù năm thấu Đinh hỏa Thương quan, chỉ vì Đinh hỏa sinh Kỷ thổ chuyển thành sinh Dậu kim, liền không khắc Quan tinh, cách thành Quan Ấn tương sinh. Cho nên địa vị mệnh chủ là Vũ Xương Tri phủ.
    Mệnh Lưu Tư Vấn: Kỷ Mão/ Bính Tý/ Bính Ngọ/ Canh Dần. Nguyệt lệnh Chính Quan, may mắn có Dần Ngọ hợp mà không xung Tý, can năm Thương quan không thể trực tiếp khắc phá nguyệt lệnh Quan tinh, thành Quan Ấn cách. Tây phương vận Tài vượng sinh Quan, về sau mệnh chủ được Tiến sĩ, một đường Quan vận hanh thông, nhiều năm nhậm chức Ngự sử bên phải thủ đô Nam Kinh. Canh vận năm Quý Mùi lúc 64 tuổi thăng quan Hộ Bộ Thượng thư.

    Có thể thấy rằng, tháng 8 Quan tinh, tuy kị Mão Đinh, nếu có cứu ứng, quý cách không tổn hại. Còn có, cho dù là bát tự phá mất Quan cách, chỉ cần có thể cấu thành khử Quan hội tụ Thực cách, cũng vẫn còn hữu tình, chỉ là phú mà không quý thôi. Chỉ có loại khử Quan Ấn mà không hết, mà bát tự Quan Ấn cách lại không thể thành lập, mới là cách đúng vô tình.
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.


  12. Cảm ơn bởi:


  13. #37
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    4,012
    Nam mệnh 1: Bính Tuất/ Ất Mùi/ Mậu Thân/ Canh Thân. Vốn là Quan Ấn cách, chỉ vì Mùi Tuất hình, Ất Canh hợp, phá mất Quan Ấn cách, tốt ở đại vận Tây Bắc, Ấn tinh vô khí mà không thể khởi dụng, cách thành khử Quan tựu Thực. Cho nên mệnh chủ ở trong vận Canh Tý, Tân Sửu tạo ra được cơ nghiệp, đại phát vài trăm vạn, giàu có một phương.

    Nam mệnh 2: Giáp Thìn/ Mậu Thìn/ Quý Mão/ Quý Hợi. Quan không có Ấn hóa, lại có Thương khắc, là khí Quan tựu Thực cách. Vận Canh Ngọ, Tân Mùi, Ấn tinh chế Thương hóa Quan, cách biến thành Quan Ấn tương sinh. Mệnh chủ sau khi tốt nghiệp cao trung làm việc tại Công ti Y Dược ở huyện, không có chỗ biểu hiện. Vào vận Nhâm Thân, Thương quan khử Quan, mệnh chủ từ chức tự mở ra hiệu thuốc, đến 10 năm, mỗi năm thu nhập hơn 10 vạn.

    Nam mệnh 3: Tân Mùi/ Canh Tý/ Bính Tuất/ Giáp Ngọ. Nguyệt lệnh Quan tinh, Ấn tinh cao thấu ở can giờ, không thể trực tiếp hóa Quan sinh thân, Quan Ấn cách không thành lập. Mùi thổ Thương quan khắc khử Tý Quan, cấu thành khử Quan tựu Thực. Mệnh chủ học được y thuật tổ truyền, tự mở phòng thuốc, hành nghề y cứu thế, về sau Nam phương Thực Thương vượng địa, trở thành danh y một phương, đông khách như chợ, mỗi ngày nhận điều trị không hết việc.

    Nam mệnh 4: Quý Mão/ Giáp Tý/ Bính Tuất/ Kỷ Sửu. Năm tháng có Quan Ấn tương sinh, tiếc là Tý Sửu hợp, Giáp Kỷ hợp, Quan Ấn đều tổn hại, phá mất Quan Ấn cách. Lại do đại vận nghịch hành Tây phương kim địa, Quan được Tài sinh, khử Quan không hết, cách không thành, cho nên mệnh chủ học nghiệp không thành, là lão nông nghèo khổ, trung niên có tang vợ, về già thì cô đơn.

    Và một nữ mệnh: Quý Mão/ Giáp Tý/ Bính Tuất/ Giáp Ngọ. Cũng gần giống với mệnh nam ở trên, chỉ khác trụ giờ, không có Thương quan hợp phá Quan Ấn, thành lập Quan Ấn cách. Tuy nhiên đại vận Đông Nam, Quan tinh không vượng, nhưng mệnh chủ cũng có thể có địa vị là Sở trưởng Tòa Án một Huyện.

    (Hết)
    Nhược năng liễu đạt Âm Dương lý,
    Thiên Địa đô lai nhất tưởng trung.



 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •