Chào mừng đến với Tử Bình diệu dụng.
Kết quả 1 đến 6 của 6
  1. #1
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,013

    Lời đề tựa - Tử Bình Chân Thuyên Bình Chú

    Thể theo lời gợi ý của bạn Thiên Y. Hôm nay tôi xin đăng nốt phần lời đề tựa của sách TBCTBC.

    - Đây cũng là đóng góp một chút để chi ân tới Từ Nhạc Ngô tiên sinh và những người đi trước đã dịch tác phẩm và cũng để người đọc có thể biết thêm về duyên cớ cũng như những tâm huyết của Từ Nhạc Ngô tiên sinh và những người bạn của ông trước khi chúng ta có được một tác phẩm TB chính tông để nghiên cứu. Cuấn sách quý của môn TB.

    - Lời tựa thì viết theo thể cổ văn Trung Quốc, câu cú ngắn gon xúc tích. Cho nên khi dịch không tránh khỏi những sai lầm đáng tiếc, hoặc những câu văn khó hiểu thì chỉ dựa theo ý để dịch cho nên nội dung cũng có thể chưa được chính xác trọn vẹn. Vì vậy cũng rất mong chị Kimcuong, bạn Phuocloc, Thachmoc và những bạn trong diễn đàn biết dịch thuật góp ý và bổ sung để bản dịch được hoàn thiện hơn.
    Tôi xin trân trọng cảm ơn: Letung73!
    Lần sửa cuối bởi letung73, ngày 05-03-14 lúc 13:39.

  2. Cảm ơn bởi:


  3. #2
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,013
    Lời tự của Phương Trọng Thẩm

    Mệnh lý chính là môn khoa học của nước ta ( nước Trung Quốc) nó được dung nạp xâu chuỗi với triết học mà trở thành một loại học thuyết, mấy ngàn năm qua được phát huy lưu truyền phát triển, lúc chìm lúc nổi, đều nhờ vào 1, 2 người có tâm kế tục duy trì, nhờ đó mà được bảo tồn, trong đó nó thật có giá trị nghiên cứu học thuật, không hồ đồ nói những điều viễn vông, hoang đường mà gọi là không kinh điển. Thực tế đến nay nó không thể đứng vững trong vị trí của khoa học đương đại được, là do nắm được nó rất khó khăn. Bới thế giai cấp sĩ phu cổ đại xem Y, Bốc, Tinh, Tượng coi là những loại đạo đáng hổ thẹn khi học Cửu lưu ( Cửu Lưu: Là 9 học phái từ Tiên Tần đến Hán Sơ, Trung quốc), mà nhiều đại sư phát minh ra lại cố ý diễn tả nó một cách mù mờ không rõ ràng, để muôn người đời sau phải vất vả tìm tòi; giữa lúc có 1, 2 kẻ hiền có được phát minh cũng bí mật chi bằng cất giấu, vừa sợ hé lộ thiên cơ, lại còn sợ là tà thuyết bàng môn ngoại đạo, cuối cùng không chịu công khai nghiên cứu, để thành lập một bộ sách có thuyết minh rõ ràng một cách hệ thống rồi lưu lại cho hậu thế. Bởi vậy ngày nay muốn nghiên cứu loại học thuật này quả thật là một việc cực khó khăn.


    Căn cứ vào sự sơ khởi của mệnh lý thì mệnh lý ở vào một trong 5 ngũ tinh, trong đó có 1 biến làm Tử Bình; khi ngũ tinh hơi đầy đủ, đứng đầu đề cử là bộ sách Tinh Tông của Quả Lão ( Quả Lão tinh tông). Nhưng mà từ đời Dân quốc đến nay, Khâm Thiên Giám đổi Thất chính Tứ dư đài trở thành Đài quan sát thiên văn trung tâm, đài này đã nhiều lần chuyên dùng để đo lường Thiên xích, không có người suy tính, do đó môn này căn bản không có cách nào bắt tay vào duy trì và bảo tồn được, e răng đến nay đã bị thất truyền. Do đó ta là một học phái của Tử Bình, đã chú trọng để có thể tìm ra đầu mối. Trong thư tịch cũ, đầu tiên là đề cử hai sách "Trích Thiên Tủy" và Tử Bình Chân Thuyên , hai sách còn hoàn bị, đầy đủ nhất, học giả nói mệnh sau này cho dù có thiên ngôn vạn ngữ, cũng không thể vượt qua phạm vi của hai tác phẩm đó. Như những năm tháng trôi qua, đều không thể phế bỏ được nó. Những loại sách trước tác của cổ nhân, thường viết bằng những từ ngữ ngắn gọn xúc tích khó hiểu, thói thường huyễn hoặc giữ kín, cuối cùng rất khó khăn cho sự lí giải minh bạch. Sách "Trích Thiên Tủy" may mắn có Nhậm Thiết Tiều chú thích; mà Tử Bình Chân Thuyên đến tận bây giờ chưa có người tiến hành giải thích. Nay người con họ Từ tức Nhạc Ngô trước là đem "Trích Thiên Tủy" Nhậm chú in thành sách và phát hành, sau trở lại bình chú Tử Bình Chân Thuyên , có thể sánh kịp Nhậm Quân, làm cho đạo này được tỷ mĩ rõ ràng mà có được nghiên cứu một cách hệ thống, sau này trong vị trí học thuật sẽ gây dựng được nền tảng căn bản, công lao đó xem như không thể tính toán được.

    Những kẻ hậu học nghiên cứu nguyên lý mệnh học, được hai sách này, không đến mức sa vào những ngã rẽ sai lầm khi nghiên cứu mệnh học, còn như ứng dụng, còn cần phải chiếu theo và xem nhiều mệnh tạo cổ kim, như vậy đọc sách với thực nghiệm đều quan trọng như nhau, ngay sự cao thấp của thiên phú, với sự đạt được nông sâu, lại là nguyên nhân và kết quả hỗ trợ với nhau. Nếu như có hội tụ được đủ 3 thứ: Tài năng xuất chúng, học thức, kinh nghiệm một cách đầy đủ, với môn học này để mà có được mấy người trở thành thánh nhân. Như vậy cũng giữa đời này qua đời khác mà cả sau này, không phải sớm chiều người nào đó mới có khả năng ngộ được một cách nhanh chóng được.
    Ta thảo luận về mệnh lý đã nhiều năm, mà vẫn luôn hổ thẹn không hết với 3 vấn đề đã nên trên, đến tận bây giờ hiếm có phát minh. Mà Nhạc Ngô nhiều năm ăn ngủ với nó, có thời gian thì chép các điều đã biết ra tác phẩm. Hiên nay sách hoàn thành mang đi in ấn, tuy không bỏ được sự ngu dại, nhưng có căn dặn từng lời, giữ gìn và lược thuật để cho dễ hiểu, để có thể phát hiện ra nguồn gốc của nó.

    Thành phố Đồng Thành Giữa mùa Xuân năm Bính Tý lời tự của Phương Trọng Thẩm ở Hải Thượng Tiểu Vong Ưu Quán.
    Lần sửa cuối bởi letung73, ngày 07-03-14 lúc 21:11.

  4. Cảm ơn bởi:


  5. #3
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,013
    Lời mở đầu của Từ Nhạc Ngô

    Tử Bình Chân Thuyên Bình Chú kết thúc, mặc khách có thu thập giải thích mấy mệnh tạo họ Viên đã viết: " Mệnh này có thể là Mệnh tạo, tức là mệnh không có đủ bằng chứng vậy. Mà lại người vốn tu tập phật gia, như nói rằng mệnh định ( ổn định), tức là mệnh ưu tú không vướng vào việc ác, mệnh không tốt có trở thành thiện mà thành vô ích, có phải là lý này chăng? Tốt xấu của mệnh này, thì cái nào tạo thành? Cái nào chi phối? Điều cần biết là lấy cái nhân thiện vốn có của đời người, mà trở thành mệnh đẹp của kiếp này, lấy cái nhân ác vốn có của đời người, mà trở thành mệnh xấu của đời này. Mệnh vận tốt xấu, trở thành nguyên nhân vốn có, như vậy là có chắc chắn vậy; nguyên nhân đương thời, mà đương thời liền gặp kết cục của nó, thì mệnh này vô định vậy. Thường gặp có mệnh tốt mà vận xấu, có mệnh xấu mà vận lại tốt; vì mệnh như hạt giống, vận như thời vụ nở hoa . Mệnh tốt vận xấu, dường như hiếm thấy hoa quả, mà không đến nỗi khi có hoa lại có thể vun bồi ở trong một căn phòng ấm cúng, mà không phải là điều quan trọng của một đời người. Nếu như mệnh xấu vận cũng xấu, thì chính là cỏ mềm coi thường trần thế, ngoài ra còn bị chà đạp dầy vò. Cho nên người có mệnh đẹp vận xấu, đại bộ phận an nhàn mà dư giả hưởng thụ, nhưng mà không thể lúc nào cũng đầy hứa hẹn, như vậy là cái nhân vốn có vậy. Nếu như không bằng lòng với chính nghĩa và lợi ích chung của mệnh, mà miễn cưỡng tiến thủ, thì chính là tán gia bại sản, tiếng tăm không ra gì, như vậy đó là nguyên nhân trực tiếp vậy. Cho nên mệnh đã định công danh sự nghiệp, nước chảy thành sông; bằng không, trời đất chông gai, vất vả mà vô công. Còn như mức độ thành công hay thất bại thì tùy thuộc vào nguyên nhân thành công của nó, có hay không có thể suy đoán vận mệnh, hoặc bởi là tuân theo kết cục mà tương lai đã định sẵn, nhất định vận mệnh trong tương lai thì không thể biết được ư. Đúng là nhân quả vậy. Mệnh tạo ra vậy, mệnh lý như thế, lý cố hữu của nó là giống nhau. Tử viết: "Quân tử cư dịch lấy sĩ mệnh" , lại viết "Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử" ( ND: ý muốn nói đã là người quân tử thì phải hiểu mệnh số, để từ đó mà biết nắm bắt thời cơ..., mà người không hiểu mệnh số thì không phải là người quân tử). Sách Tử Bình Chân Thuyên Bình Chú biết cách nhập môn để hiểu số mệnh con người, cũng suy xét cách thức thuận tiện những nguyên nhân đã có. Mặc khách xin lui vào im lặng, bởi vì đã ghi chép ra để lấy làm lời đề tựa này.

    Nhạc Ngô Thị ghi lợi đề tựa này giữ lúc đang ở trên biển Đông Hải, tháng 2 năm thứ 25 đời Dân Quốc

  6. Cảm ơn bởi:


  7. #4
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,013
    Tử Bình Chân Thuyên nguyên tự.

    Ta tự trói mình để triển khai truyền bá, mặc dù thích đọc Tử sử chư tập(2), trong lúc nhàn rỗi thì đã xem qua các loại sách Tử Bình như
    Uyên Hải , Đại toàn , cũng có phần biết về ý nghĩa của nó. Nhưng mà không có thầy giảng dạy lý ngũ hành sinh khắc, cho nên cuối cùng còn chưa tiếp cận được. Sau đó lại mua được nhiều sách như Tam Mệnh Thông Hội , Tinh Học Đại Thành , dốc lòng tham cứu, ngày đêm suy nghĩ, mới chợt hiểu không thể không tin với số mệnh, mà người quân tử hiểu được mệnh số thì có thể thuận theo khuôn phép của số mệnh.

    Năm Mậu Tý ta do Phó cống (3) bổ xung thêm giáo viên Quan học (4). Quán trọ ở bên phải cổng Phụ Thành, và được giao lưu cùng Chương Công Quân An, vui mừng như thửa bình sinh, tương đắc liên tục, mỗi lần có giờ rảnh rỗi lại ngồi bói ở quán, mặc dù Quân An thuộc vào trình đô có thể đàm luận tam mệnh . Hai bên tranh luận, trình bày tỉ mỉ mà đầy đủ súc tích. Chẳng bao lâu 3 năm đã hết, sau đó thì được sắp xếp ở Phủ Uyên Bình Thẩm Minh, có được 39 bài Tử Bình chép bằng tay mà do Thẩm Hiếu Chiêm người huyện Sơn Âm soạn, bất giác thẫn thờ mà bản thân không nắm chắc được điều gì, hối hận cho những gì đã nghiền ngẫm trước đây mà chưa đạt đến, liền mang sách đó bảo cho Quân An biết. Quân An xúc động than rằng: " Sách này thảo luận, thuyết minh về Tử Bình Gia một cách chân thực vậy".

    Húy danh của tiên sinh ( Thẩm Hiếu Chiêm) là (ế) Phần, trở thành tiến sĩ vào năm Kỷ Mùi đời vua Càn Long, tư chất thông minh dĩnh ngộ, học hành hiểu biết đến độ tinh thông uyên bác, cái đó ở vào sự tinh vi của tạo hóa, tinh thần vững chắc mà sáng tỏ, biến hóa là bởi từ trái tim mà ra vậy. Xem từ sự thành bại được mất của nó khi luận Dụng thần, lại xét nguyên nhân Dụng thần thành bại được mất, bởi vì Dụng thần thành bại được mất, thì tất nhiên là phải kiêm thêm xem kị thần, đối với Dụng thần sinh khắc trước sau chỗ nào có khác biệt, đồng thời phân biệt được sự thấu lộ với sự trọn vẹn của Dụng thần, rồi có tình hay vô tình, có lực hay không có lực, hư hư thực thực giống như râu bắp mà còn được trình bầy một cách tỉ mỉ, đầy đủ, rõ ràng. Đúng là tâm huyết một đời của tiên sinh, mới chú thích, mà đã chìm ngập trong sự hài lòng thay!

    Thế là Quân An bèn lập kế hoạch cho công việc in ấn sách, là người đoán mệnh cho thiên hạ, thì ngay lập tức không dễ dàng mà xác định được những chuẩn mực phù hợp nhất, rồi đều ảnh hưởng và dao động bởi trí tuệ nông cạn của mình, nhưng rồi sau đó đều có thể tự tin và sáng suốt; mà không nói đến sự may mắn của người biết xem mệnh, vậy mà cũng may mắn cho những bậc quân tử sĩ phu trong thiên hạ, vì sao? Người hiểu số mệnh con người, thì trong công việc kinh doanh, cạnh tranh có thể biết được tin tức này, nếu khi nào không nên thì có thể liệu định gạt bỏ mà biết dừng lại. Thông thường tất cả gặp phú quý nghèo hèn thọ yểu thì đều có số ở trời, mà tuân theo sự an bài như thế nào với số mệnh bản thân, rồi để cùng cố gắng mà quay về đi theo con đường của thánh nhân, chằng lẽ không phải nhân sĩ quân tử có phúc hậu may mắn ư!

    Hơn nữa Quân An đã tâm huyết xem xét kiếm tìm mà vẫn chưa tìm được người có cùng sở trường, chia sẻ sở thích, vậy công lao ấy cũng không đáng ghi nhận ư? Vui mừng thay do cái duyên khởi đó mà họ Nhạc có lời đề tựa này.


    Đầu mùa Hạ Năm Bính Thân năm thứ 41 đời vua Càn Long cùng hậu học Không Phủ Hồ Hỗn Minh trịnh trọng ghi nhớ.
    Lần sửa cuối bởi letung73, ngày 11-03-14 lúc 21:47.

  8. Cảm ơn bởi:


  9. #5
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,013
    Phàm lệ

    Mùa Hạ năm ngoái in và phát hành sách Trích Thiên Tủy chinh nghĩa , người phê duyệt đặt ý nghĩa quá cao, liên tiếp dùng khoa học để thêu dệt, ngoài ra khi biên dịch còn dùng những giáo trình nông cạn làm yêu cầu. Trộm nhớ bản chất nội dung của "Trích Thiên Tủy" không phải giành cho người mới học vậy. Phương pháp của Tử Bình, chú trọng đến sự tiếp cận ngọn nguồn Ngũ tinh, niên đại, các tác phẩm nổi bất xuất sắc thì không có nhiều như: Tử Bình Đại toàn , Uyên Hải Tử Bình , Tam Mệnh Thông Hội , Thần Phong Tích Mậu , đại bộ phận những loại sách này tạp mà không tinh, nó khiến cho người mới học khó có thể tiếp cận được, duy chỉ có Tử Bình Chân Thuyên , luận bàn uyên bác thấu đáo, mà thứ tự sắp xếp của nó là: Nguyệt lệnh làm Kinh, các thần khác làm Vĩ (ND: Ý mốn nói là Nguyệt lệnh làm xương sống -đường dọc Nam Bắc là Kinh tuyến-, còn các thập thần khác là phụ trợ -đường ngang Đông Tây là Vĩ tuyến-), trật tự ngay ngắn, đây là cái dễ nhất cho người mới học, chỉ tiếc không may mất đi phần giản lược, mà còn có quan điểm là không đưa ra các quy tắc, cho nên người mới am hiểu một các sơ đẳng thì ca thán mà người nhập môn không thể theo được.

    Có một người bạn thân thích tên là Hà Kì ở Thiệu Hưng (tên thành phố ở tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc) có gửi cho Trọng Quân một bản in, nguyên bản này nguyên là của Quan thừa (5) Triệu Triển Như cất giữ, rồi cùng nhau đối chiếu hiệu đính, duyên cớ mà cuộc đời đã đạt được kết quả trong nghiên cứu, xin nói rõ là bình chú, đồng thời có lấy mệnh tạo của thời đại hiện nay làm ví dụ chứng minh. Vất vả vùi đầu nửa năm mới khắc thành sách, cuối mỗi bài có kèm theo một số ví dụ sơ cấp. Tuy chưa dám nói rằng trình bày và phát huy một cách trọn vẹn mà chỉ đại khái đã cơ bản đầy đủ, học giả nắm được bộ sách này, từ đó tiến thêm nghiên cứu sách
    Trích Thiên Tủy chinh nghĩa , tiến dần từng bước, ngõ hầu không phải lo lắng cho con đường nghiên cứu của mình. Tuy không phải tài liệu giảng dạy, nhưng chắc chắn không khác gì tài liệu giảng dạy vì nó có hệ thống một cách tuần tự. Bình chú vừa kết thúc, thì tường thuật phàm lệ của nó ở vào bên phải.

  10. Cảm ơn bởi:


  11. #6
    Ban quản trị

    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Bài viết
    5,013
    1, Lời tựa trong nguyên sách gọi là 39 bài chép tay, cho nên luận bát cách với thủy vận hợp lại thành một quyển ( Như luân Chính quan với luận Chính quan thủ vận thực tế là một bài). Nếu phân loại ra thì có 47 bài, mà bản phường chỉ có 44 bài rưỡi, hành vận, thành cách, biến cách bản in phường chỉ có nữa bài. Nay theo nguyên bản bổ sung cho đầy đủ, để thành một tác phẩm hoàn chỉnh.

    2, Nguồn gốc Tử bình với Ngũ tinh, danh từ cách cục, đa số theo cách gọi cũ của Ngũ tinh, người đời sau không được minh bạch, khiên cưỡng gán ghép, đủ để làm rối loạn sự hiểu biết nhiều nhất. Bình chú thì trình bầy chi tiết thêm để uốn nắn sửa chữa, đồng thời thuyết minh vào trong bình chú, thêm vào đó là sửa chữa cải chính.

    3, Chân thuyên lấy nguyệt lệnh Dụng thần làm kinh, các loại thần làm vĩ, nhưng mà dụng thần không phải hoàn toàn lấy ra ở nguyệt lệnh, cho nên lấy cách cục dụng thần bỏ đi sự khác biệt của nguyệt lệnh, đặc biệt nêu ra (đề xuất) với tiến hành thuyết minh. Do đó thủ dụng ( chọn dụng thần) không định phương pháp, lấy thứ tự sắp xếp của nguyệt lệnh dụng thần, tuy 10 nhưng chỉ được 7, 8, nghiên cứu mà không thể hoàn toàn bao quát được. Vì thế không phải sự sai lầm của sách gốc mà đây là chỉ giới hạn trong thứ tự sắp xếp mà không thể không đúng mà thôi.

    4, Khởi lệ ca quyết ( nêu nên những văn vần để ví dụ), chẳng qua tiện cho ghi nhớ. Nếu như rõ ràng nguyên lý của nó, thì ca quyết không chỉ dễ dàng ghi nhớ, mà còn có thể tự mình biến tấu thêm, bằng không, ca quyết trong mệnh lý nhiều như lông trâu, làm sao mà có thể ghi nhớ được hoặc thuộc hết? Cho nên khi đưa ra ví dụ minh họa nhập môn của bài đầu, lược thuật bớt nguyên lý, đồng thời phụ thêm ca quyết, và sắp xếp bảng biểu để tiện tra cứu.

    5, Người chưa am hiểu mệnh lý, nên đọc trước cuốn Nhập môn mệnh lý, lại đọc bình chú, tuần tự mà tiến, bản thân không đến nỗi sa vào sự rối rắm mà không có manh mối nào.

    6, Trong khi bình chú sở sĩ dẫn ra ví dụ chứng minh, hoặc sưu tầm một số mệnh tạo của các danh nhân hiện đại, hoặc sao chép từ sách Trích Thiên Tủy chinh nghĩa . Nhưng do nguyên nhân tài liệu không đủ, thông thường thì đúng là không phải những ví dụ chứng minh thích hợp, tạm thời bổ sung vào chỗ còn khiếm khuyết đó cho thích hợp, hoặc cũng có thể bên này chứng minh cho bên kia, hai bên bổ trợ cho nhau, song vẫn không tránh khỏi sự trùng lặp xuất hiện, sau này sẽ tiếp tục thu thập và đem cải chính khi tái bản.

    Ghi chú:


    1. Thất chính Tứ dư là hệ thống chiêm tinh học cổ đại Trung Quốc. Thất chính là chỉ các tinh diệu như nhật ( thái dương), nguyệt ( thái âm ), kim, mộc, thủy, hỏa, thổ , v.v... Tứ dư là chỉ 4 hư tinh là Tử Khí ( (điềm báo tốt lành trong chiêm tinh học), Nguyệt bột, La hầu, Kế đô, v. v... Thất chính Tứ dư đoán mệnh, là lấy ngày tháng năm sinh của con người, quan sát những tinh diệu của Thất chính Tứ dư, ở vào miếu vượng của 12 cung, với sự vận hành thiên thể về độ số của 28 chòm sao, để đoán biết được sự cát hung của người khi sinh ra.

    2. Tử sử chư tập gồm có Kinh, Sử, Tử, Tập tứ bộ : Là sản phẩm của văn hóa truyền thống Trung Quốc, thích hợp dùng với các sách cổ điển văn hóa truyền thống.

    3. Phó cống: Là trong chế độ khoa cử, những tú tài được tiến cử vào Quốc tử giám. Chế độ nhà Thanh, khi tuyển chọn thi hương tức số người ngoại lệ thì còn được tuyển thêm ngoài danh sách trúng tuyển chính thức có thể vào Quốc tử giám học tập, gọi là "phó bảng tú tài", do đó mà có tên gọi tắt là Phó Cống.

    4. Quan học: Là chỉ triều đình Trung Quốc trực tiếp cử ra và quản lý, cùng Quan phủ các triều đại căn cứ theo hệ thống trường học mà quy định khu vực hành chính cho từng địa phương lo liệu. Bao gồm Quan học của trung ương và quan học của địa phương cùng cấu thành chế độ giáo dục Quan học chủ yếu nhất Trung Quốc.

    5. Quan thừa: Quan giúp việc thời xưa.


    Lần sửa cuối bởi letung73, ngày 15-03-14 lúc 16:51.

  12. Cảm ơn bởi:


 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •